18/5/09

Nhục nhã!

2 nhận xét




Quốc hội Việt Nam, thông qua ông Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Trần Đình Đàn, lại có một động thái hết sức nhục nhã khi tuyên bố "hoàn toàn ủng hộ chủ trương khai thác bô-xít".

Lý do được đưa ra rất đơn giản, là vì "chủ trương này đã được Đảng và Nhà nước ta nói ngay từ Đại hội IX và X của Đảng. Ngày 24-4, Bộ Chính trị đã ra thông báo về chủ trương tổ chức khai thác, quản lý khai thác giá trị công nghiệp nhằm phát triển đất nước, khu vực Tây Nguyên".

Và nếu Đảng (Nhà nước) đã "phán" vậy, thì theo ông Đàn: "Chắc chắn Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ. Về việc làm như thế nào, triển khai thế nào, dự án nào cần làm, quy hoạch thế nào là trách nhiệm của cơ quan hành pháp là Chính phủ".

Xin lỗi ông, vậy Quốc hội của các ông tồn tại để làm gì? Đã là "nghị gật", hiển nhiên, bét ra quý vị cũng nên có chút liêm sỉ chớ có bô bô ra thế chứ? Vài bữa nữa, cứ để đem ra "bàn bạc dân chủ", có phe ủng hộ, phe phản đối, rồi bố trí để phe ủng hộ chiến thắng (đừng tuyệt đối quá, nên sắp đặt căng thẳng một chút cho nó "phản ánh sự thật"), thi dân chúng tôi khắc im họng, cũng có nói được gì đâu?

Đằng này... bức xúc quá!

(*) Ảnh: Ông Trần Đình Đàn, hy vọng sẽ được "lưu danh thiên cổ" với phát biểu không thể... thúi hơn, ở trên!

16/5/09

Concert nhân... sinh nhật Thu Vân :)

12 nhận xét



Hôm nay là sinh nhật Thu Vân, con tròn (*) 10 tuổi.

Cũng đúng hôm nay, dàn đồng ca của trường Thu Vân tham dự một concert ở Áo, nhân kỷ niệm 200 năm ngày mất của Joseph Haydn (1732-1809) – Áo coi 2009 là Năm Haydn (Haydn-Jahr).

Thu Vân không hát vì thuộc chorus thiếu nhi (còn bữa nay chorus thiếu niên diễn), nhưng cũng muốn đi cổ vũ các anh chị. Mẹ thì bảo, coi như đây là quà sinh nhật cho Thu Vân, nên hai bố con sẽ rong ruổi qua Áo Quốc để xem concert. :)

Gọi là Áo cho... oách, chứ thực ra thành phố nhỏ này (Việt Nam có lẽ gọi là thị trấn) – tiếng Áo là Eisenstadt - chỉ vỏn vẹn chừng 12 ngàn dân, và cách biên giới Hungary có 12 km.

Thời trước, nó thuộc về Hung (Hung gọi là Kismarton), đến tận 1921, khi Hiệp ước Hòa bình Trianon (chấm dứt Đệ nhất Thế chiến) khiến Hungary mất hai phần ba dân số và hai phần ba diện tích. Hiện, Eisenstadt là thủ phủ của tiểu bang Burgenland (Áo).

Vốn là vùng đất của dòng họ quý tộc nổi tiếng Esterházy (Hungary) nên danh thắng lớn nhất ở Eisenstadt là Cung điện Esterházy, nơi diễn ra concert hôm nay. (Việc tổ chức các concert cho thanh thiếu niên ở những nơi „đô hội”, long trọng như vậy cũng góp phần để lũ nhóc bên này thêm yêu âm nhạc, và để thể hiện sự tôn trọng hội „chíp hôi”, „trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”).

Haydn có câu, đại ý „cả thế giới hiểu ngôn ngữ của tôi”, ngụ ý ngôn ngữ của âm nhạc. Đúng phết, và càng cần thiết trong thời đại đảo điên này...

(*) Chuyện vuông, tròn. Nhật ký ông nội cún ghi lại cho bố, thời bố 4 tuổi. Khi nhà bảo „ngày mai con tròn 4 tuổi”, thì bố vặn lại: „Thế hôm nay con vuông 4 tuổi à?” Rồi bố còn đòi hỏi: „Mai không tổ chức thì còn gì là „tròn trịa” nữa!” Đại loại hồi nhỏ bố hay „trứng khôn hơn vịt” như thế, nhiều khi rất khó chịu, hay bị mắng là „lý sự cùn!" :)

11/5/09

Báo cáo nhân quyền

3 nhận xét



Vụ Việt Nam báo cáo về nhân quyền tại LHQ được coi là một tin nổi bật về chính trị trong vài bữa nay. "VietNamNet" có hẳn tường thuật tại trận từ Geneva, Thụy Sỹ.

Tất nhiên, kết quả vụ báo cáo nhân quyền này, thì không cần xem báo cũng biết: chắc chắn phải "thành công rực rỡ" :). Như bố cún còn nhớ, thời ngay sau 1975, cụ Phạm Văn Đồng, thủ tướng bất lực nắm quyền dài nhất trong lịch sử (Việt Nam và thế giới), có tuyên bố (hình như với các ký giả quốc tế) rằng Việt Nam không hề có tù chính trị, tù vì bất đồng chính kiến (mà "bọn phản động" hay gọi là "tù nhân lương tâm").

Một đất nước chiến tranh triền miên, nội ngoại xâm liên tục, mà thực hiện được điều đó ngay sau ngày thống nhất, thì bây giờ, 34 năm sau, tình hình nhân quyền ắt phải ưu việt. Cái đó miễn bàn!

Cái hay ở đây là một "thừa nhận" rất khéo và tế nhị của phía Việt Nam, mà "VietNamNet" đã diễn đạt rất nhẹ nhàng: "Đề cập tới các thành tựu song Việt Nam cũng thừa nhận các thách thức, khó khăn phải đối mặt trong việc đảm bảo thực hiện quyền con người, có lúc còn để xảy ra vi phạm, ảnh hưởng đến việc thụ hưởng quyền của người dân".

"Có lúc xảy ra vi phạm", nghĩa là cũng không mấy khi. Và, "các thách thức, khó khăn phải đối mặt", nghe cứ như nó đến từ đâu, có thể từ bên ngoài (bọn phản động), hoặc do những lý do "khách quan", chả phải do chính quyền không muốn ;)

Tay ký giả nào "chấp bút" những dòng ấy, thật là bậc đại bút ;)

*

Trong khi Việt Nam không hề có vấn đề nhân quyền, thì tại Hung, tình trạng nhân quyền ngày càng tồi tệ: dân tham gia biểu tình, đập phá ở trung tâm thành phố, thì hay bị cảnh sát ngăn cản, thỉnh thoảng còn "hành hung" họ (ảnh trên); các tổ chức dân sự muốn kiểm soát sự trong sạch của chính phủ, thì đôi lúc không được chính phủ sẵn lòng hợp tác, không được chia sẻ lập tức những "bí mật" quốc gia như họ đòi hỏi.

Thật là một thảm họa (nhiều cư dân đã kiện Hungary trên Tòa án Nhân quyền Châu Âu vì quá bức xúc trước những sự này)!

9/5/09

Mother's day

5 nhận xét



1. Ngày mai là Ngày các Bà Mẹ ở nhiều nước (Việt Nam mình cũng "xài" ngày này), nhưng ở Hungary thì đã tổ chức từ ngày Chủ nhật đầu tiên của tháng Năm.

Nói đến ngày này và đến Mẹ, ai cũng nhớ nhiều áng văn thơ nhạc họa quen thuộc.

Ở tầm loàng xoàng, có bài hát "Chỉ có một trên đời" của Trương Quang Lục (nghe đâu phần lời là "đạo" của Liên Xô?):

Trên trời cao có muôn ngàn ánh sao
Trên đồng xa có muôn ngàn cây lúa
Con chim rừng có muôn ngàn tiếng ca
Cây trong vườn có muôn ngàn lá hoa
Riêng mặt trời chỉ có một mà thôi
Và mẹ em chỉ có một trên đời

Thanh cao hơn (và bị nhắc đi nhắc lại đến độ... nhàm chán), thì có "Bông hồng cài áo" của Thích Nhất Hạnh (ca khúc do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc thì cá nhân bố cún không thích lắm, vì có cái gì cải lương, hát lên nghe chừng... giả tạo).

Hay, trường ca lớn "Mẹ Việt Nam" của Phạm Duy, mà Doãn Quốc Sỹ đã có bài bình luận "Nghĩa Mẹ tình Mẹ qua những tác phẩm văn nghệ Việt Nam" đọc thấy nao lòng: "Mẹ hiền như ánh đuốc soi sáng lương tâm những lúc đi lạc trong biển sương mù", và Đặng Tiến thì có bài "Mẹ Việt Nam trong nhạc Phạm Duy" tinh tế và nhạy cảm: "Nghe lại "Mẹ Việt Nam", trở lại Mẹ hiền, là về lại Yêu Thương, về lại Cội Nguồn, về với Bản Thân".

Nhưng từ tuần trước, bố cún lại có thêm một "áng" bất hủ khác, trong "tàng thư" đồ sộ: ấy là bài luận tặng mẹ của Thu Vân :)

2. Thu Vân có mấy món quà (ảnh) tặng mẹ từ tuần trước, trong đó có bài luận trên, đặt trong 1 tấm thiệp. Tất cả đều do Thu Vân tự tay làm, trong khuôn khổ giờ thủ công ở trường do cô hướng dẫn, để bọn nhóc về tặng Mẹ.

Đi học về, mẹ và em đang ngủ, Thu Vân rón rén nói thầm với bố, rằng đã chuẩn bị quà cho mẹ, nhắc bố đừng nói gì cả, "cho bất ngờ".

Rồi một lúc sau, do một sơ sẩy gì đó, Thu Vân bị mẹ gọi vào, mắng cho một trận. :)

Không rõ Thu Vân đưa mẹ xem món quà lúc nào, chỉ biết khi bố đi có việc về thì mẹ chuyển cho bố tấm thiệp để dịch cho mẹ. Hình như Thu Vân dọa mẹ rằng bài luận có nội dung "nói xấu" mẹ lắm, nên mẹ có vẻ hồi hộp tợn.

Dịch sơ sơ (và sát ý, giữ nguyên các hành văn Tây, ngồ ngộ của Thu Vân) ra tiếng Việt, nội dung bài luận ấy như vầy:

"Gửi mẹ yêu của con.

Nhân Ngày các Bà Mẹ, con muốn tặng mẹ một bài luận nhỏ này.

Điều căn bản chỉ được nhắc tới sau đây: giờ con mới kể, con có cảm xúc ra sao về mẹ. Các mẹ đều thích được khen con cái, đúng không mẹ? Nếu con hư, mẹ nghiêm khắc mắng con, nhưng mẹ làm điều đó cũng là vì lợi ích của con. Trong cặp mắt nâu của mẹ ánh lên dấu hiệu của tình yêu thương. Mẹ mệt mỏi vì em, vậy mà... con lại hay khiến mẹ bực. Và nếu đôi lúc mẹ có giận con đi nữa, con cũng hiểu được điều đó. Mẹ khó nhọc cùng bố, vất vả với gia đình. Con thích mẹ mỉm cười, khi khi ấy con biết rằng mẹ yêu con, mẹ ở bên cạnh con. Con cũng luôn cảm nhận được điều đó, kể từ khi con ra đời.

Mẹ, con yêu mẹ!

Con bé nhỏ và yêu thương của mẹ"

3. Các bậc phụ huynh thường kể lể về sự bao dung của mình cho con cái, nhưng đã bao giờ họ nghĩ, lắm khi, con cái cũng rất bao dung với họ?

Trong nhà, mẹ cún nghiêm khắc nên có "uy" hơn với hai đứa. Bố thì xuề xòa, ít nói, và có nói chúng nó cũng không nghe. Phần "dạy" con (hiểu theo nghĩa giảng giải, đôi lúc "lên lớp"), bố hay nhường cho mẹ. Cho nên mẹ thường nói rằng, bố "khôn" vì đẩy phần khó cho mẹ, rằng bố có "mắng" bọn nhỏ bao giờ đâu, hèn gì chúng nó quấn bố hơn, và có thể, quý bố hơn mẹ...

Nhưng con trẻ, do trong trắng nên không hề có định kiến, và do thông minh nên không bao giờ hiểu sai những thiện ý mà cha mẹ dành cho chúng. Và cho dù, sinh ra và trưởng thành bên này, hưởng nền giáo dục của Tây thiên về tôn trọng những giá trị cá nhân, quen với suy nghĩ dân chủ và độc lập, sính tự do và không ưa bị can thiệp quá sâu, quá... trắng trợn vào những chuyện mà chúng coi là riêng tư, nhưng chúng luôn phân biệt được đâu là tình thương, đâu là sự lo lắng của cha mẹ. Kể cả, đôi khi, nỗi âu lo cho con cái thường được thể hiện dưới những hình thức cực đoan kiểu Á Đông, hơi tí lại chủ trương "yêu cho roi cho vọt", "cá không ăn muối", "chúng mày chớ có trứng khôn hơn vịt"...

Mới thấy, lũ trẻ bây giờ hơn chúng ta xưa nhiều lắm! Và, cũng cần lắm từ các ông bố bà mẹ, sự ý thức rằng con cái không chỉ là… con cái, mà còn là những người bạn của chúng ta… Như thế, mới mong “’dạy dỗ” được chúng hiệu quả!

Bố mẹ cám ơn Thu Vân, thương con lắm!

1/5/09

Cún du côn

12 nhận xét



Lâu không viết cho cún, thực ra cún đã trở thành một chàng thanh niên thực thụ rồi!

Từ lâu nay, cún đã vượt quá ngưỡng "hung thần" của bố mẹ. Những trò phá của cún nhiều khi để lại hậu quả thảm khốc, ví dụ: sách bị xé, đĩa CD bị dẫm đạp, băng video và cassette bị kéo ra... Nhưng không chỉ trên địa hạt văn hóa phẩm, mà cún có xu hướng phá tất cả những gì cún muốn.

Mẹ bảo cái tính đó, cún thừa hưởng từ bố, "ưa tự do". Cũng đúng phần nào, nhưng phải nói là bố kiên nhẫn hơn cún nhiều. Chứ cún, dạo này, nghĩ ra trò ăn vạ rất láo: muốn làm gì mà không được, hoặc không muốn làm gì mà bố mẹ "khuyến dụ", y như rằng cún bảo lưu một tư thế đáng ghét là người nhũn ra, lăn quay ra sàn, chân tay giãy đành đạch như đỉa phải vôi, khóc vang dội không ngớt (nhiều khi còn nhắm tịt mắt, không quan tâm gì đến trò đời khi hành sự nữa). Cứ mỗi lần thấy cún chuẩn bị cho trò Chí Phèo ấy là bố mẹ biết ngay, cười thầm nhưng ngoài mặt vẫn phải làm ra vẻ nghiêm nghị.

Tính đanh đá của cún còn được áp dụng với người ngoài, chứ không chỉ nội bộ, tại gia. Bữa trước mẹ đưa cún đi dạo ở phố đi bộ, cún thấy một bạn gái người Hung cùng khoảng tuổi, liền sấn đến, nói bi bô linh tinh rồi nhanh như cắt, giật phăng hộp nước 33cc trong tay bạn. Phải khó khăn lắm, mẹ cún mới hoàn trả được trạng thái ban đầu của hộp nước, kết quả là cún làm một tràng rên rỉ rất to, chừng 20 phút, khiến ai nấy kinh hoàng.

Tất nhiên, kèm theo sự hư đốn ấy, cún cũng ý thức được nhiều điều hơn. Mẹ đã dạy được cún biết mắt, mũi, miệng... và làm một số cử chỉ như nhẹo mắt, khịt mũi hoặc đưa tay vào miệng khi họ nói ra những từ đó. Cún khoái chơi ú tim, trốn tìm với chị và bao giờ cũng đoán được khá nhanh chỗ chị trốn. Những trò trèo leo thì cún thạo quá rồi, nhưng bây giờ thêm phi vụ mới là trèo tót sỗ sàng lên bàn gương mà không cần bắc ghế.

Cún nhìn chung cũng là tay thực dụng. Kể từ nụ hôn: bằng lòng ai thì nhào vào hôn ngấu nghiến, dớt dãi chả khác gì hôn kiểu Pháp :). Bà nội đến chơi, bảo thế nào cũng không chiều bà, nhưng khi bà mang sục-cù-là ra thì vui vẻ hòa nhã ngay, gọi dạ bảo vâng khác hắn. (Nói thêm là về ngạch ăn uống, lâu nay cún lười ăn, một bữa cho cún đến mệt, ăn xong lại nhè, nhìn chung là hư đốn).

Về thiên hướng, chưa thấy cún có gì nổi bật. Đã qua cái thời cả ngày cún lăm lăm cái bút (hay cái thìa) đi kiểm sát các phòng, đến nỗi bố có đặt cho cún cái biệt hiệu là "lão già sử phán quan bút", và bắt Thu Vân học cụm từ rối rắm đó. Ngoài ra, cún thỉnh thoảng vẫn thích chơi trò yêu ai thì... ngồi phịch lên mặt, lên bụng hoặc lên các điểm nhạy cảm khác của người đó (chiêu này cả nhà đều đã từng bị). Bới thùng rác htì vô địch! Cho nên, khả năng cún làm... bồi bút, đầu bếp, võ sĩ sumo hoặc nhân viên Công ty Vệ sinh Môi trường, nghe chừng vẫn chưa có gì xác quyết lắm.

Nói vậy thôi, dầu hỗn như ranh, chứ cún cũng ngoan. Vụ đi vòng vèo Châu Âu 5 ngày hồi Phục sinh vừa rồi, cún mà quấy như hồi sang Vienna của cô Hà thì "hỏng hết bánh kẹo". May là dịp này, cún đã biết đi, thậm chí chạy như bay, nên tự giải quyết được những vấn đề bức xúc tâm lý của mình, mà cho bố mẹ và mọi người thăm thú, giao lưu được chút chút...

(*) Minh họa: Tư thế ăn vạ thường trực của cún mỗi khi bị bắt làm gì không thích (ảnh chụp ở Erfurt, Đức nhợn, dịp Phục sinh).

29/4/09

Lại vụ bauxite: Phản biện xã hội

1 nhận xét



Cám ơn cả nhà đã khích lệ... cứ viết tiếp :) Và, như đã hứa với Hana, nhân vụ bauxite, post bài này cho "rộng đường dư luận".

Số là, gần tuần nay, và nhất là sau khi Bộ Chính trị đưa ra "kết luận về quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025" (ngày 24-4), bắt đầu rộ lên một số ý kiến "phản công", "đá móc", như trong bài "Chung quanh vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên" ("cần cảnh giác và có thái độ rõ ràng, kiên quyết với những mưu toan chính trị hóa vấn đề của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí, muốn chia rẽ nội bộ chúng ta; xuyên tạc sự thật, lợi dụng những tình cảm thiêng liêng trong trái tim, khối óc mỗi người để kích động hòng thực hiện những mưu đồ xấu xa của họ" - blogger Osin đã có ngay "Bauxite & Báo Nhân Dân" về bài này), hoặc "đỉnh cao" là vụ "phản pháo" của Bộ Công thương đối với những người tham gia ký Kiến nghị bauxite (mà blogger Bút Lông có report đầy đủ ở đâyở đây).

Phản ứng này của chính quyền cũng không thật khó hiểu, cho dù có phần "bất nhất", vì trước đó chính quyền đã viện dẫn rằng vì "nghe lời dân", để "ý Đảng" cũng là "lòng dân","tạo sự đồng thuận trong xã hội", nên chính quyền mới có những điều chỉnh cần thiết trong vụ bauxite, như đã.

Vấn đề là, một khi chính quyền "chuyển hướng" rất tế nhị như vậy, báo chí khó lòng không theo! Chẳng hạn. "Tuần Việt Nam", chuyên san có những loạt bài giá trị (và nhiều khi, dũng cảm) về các vấn đề được công luận quan tâm, đưa "ý kiến độc giả" "Phản biện hay "tát nước theo mưa"?", phán: "Tuy nhiên, lợi dụng những phản biện đúng đắn trong xã hội của một nhà nước có luật pháp để chia rẽ, gieo rắc nghi ngờ giữa người dân với chính quyền, đi xa hơn nữa là để kích động sự chống đối chính quyền, là những việc làm không liên quan gì đến các vấn đề được phản biện. Việc làm với dã tâm như vậy không thể coi là phản biện. [...] Có thể nói, sự kích động quá lộ liễu như thế tự nó bóc trần mục đích và động cơ cá nhân của những người "tát nước theo mưa".

Đọc bài ấy, bố cún hơi... nóng gáy, nên trên tinh thần "đa chiều", "xây dựng", mới viết mấy dòng sau đây gửi "Tuần Việt Nam", mà chỉ nhằm hưởng ứng lời kêu gọi của Tòa soạn: "Để rộng đường dư luận, chúng tôi... [] mong nhận được những ý kiến trao đổi thẳng thắn từ độc giả". Gọi là "góp ý", nhưng bài cũng viết cẩn thận, có trích dẫn đàng hoàng, rất mang tính "xây dựng". :)

Bài viết tất nhiên không nhằm đăng tải (vì biết là khó), đơn thuần là sự chia sẻ một quan điềm, nhưng sau đấy mấy hôm lại thấy "Tuần Việt Nam" đăng thêm bài "Phản biện xã hội phải luôn mang tính trách nhiệm cao", có đoạn: "Chúng ta không thể đồng tình và cần cảnh giác với lối phản biện có tính chất chia rẽ xã hội, thù địch và hằn học của những kẻ tiểu khí nhằm thỏa mãn những toan tính vụ lợi cá nhân, vì xét cho đến cùng đó chỉ là lối phản biện “té nước theo mưa“ rất vô trách nhiệm và không có hiệu quả".

Thì hiểu được là, hẳn cũng phải sự định hướng và chỉ đạo tỉ mỉ, khi nào báo chí cần viết với "văn phong" và "màu sắc" thế nào trong vụ bauxite này :((

(*) Minh họa: Chủ tịch Hồ Chí Minh, người không xa lạ với "phản biện xã hội", chẳng hạn trong việc tham gia "Bản án chế độ thực dân Pháp".

*
KHÔNG SỢ "TẤT NƯỚC THEO MƯA", CẦN TĂNG CƯỜNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI

Ở các quốc gia dân chủ, sự phản biện xã hội của công luận và giới truyền thông là điều hết sức bình thường, nếu không muốn nói là một truyền thống đã được thực thi khá hiệu quả từ nhiều thế kỷ nay.

Cho nên, ở những xứ đó, chính quyền và lãnh đạo, trước khi đi vào quyết định hoặc thực thi một chính sách có thể ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích và quyền lợi của nhân dân, thường phải đắn đo rất kỹ. Những biện pháp như thăm dò, điều tra dư luận một cách rộng rãi - hoặc ở mức cao nhất là trưng cầu dân ý - cũng thường được thực hiện.

Do vậy, các nước ấy giảm thiểu được tình trạng cứ giấu dân làm bừa, đến khi dân kêu quá, "cực chẳng đã", mới "sửa chữa".

Còn như ở ta, cho dù đã "sửa sai" đi nữa, qua những vụ như xây dựng TTTM tại chợ 19-12, xây khách sạn trong công viên Thống Nhất, xây dựng chợ tại sân chơi "Con voi"…, niềm tin của người dân đã bị sói mòn nhiều lắm vì cách ứng xử rất chủ quan, cửa quyền và thiếu sót của chính quyền. Ấy là chưa nói đến những thiệt hại vật chất (do phải bồi thường), mà suy cho cùng cũng vẫn trích từ tiền thuế của người dân mà ra.

Vẫn biết, tại Việt Nam, phản biện xã hội là điều mới, chưa ăn sâu vào suy nghĩ của người dân. "Nói thẳng nói thật", về căn bản, mới manh nha từ sau thời kỳ Đổi mới cách đây hơn 20 năm và cho đến nay, những công dân tâm huyết, nhiệt thành với sự phát triển xã hội, mỗi khi muốn góp ý với chính quyền vẫn luôn phải "nhìn trước ngó sau" để tránh bị quy chụp là "phản động", "động cơ đen tối", v.v... Nhưng thử hỏi, nếu không cổ vũ và khích lệ quyền được nói, được góp ý kiến, được biết và xử lý thông tin của người dân, dẫn đến quyền được kiểm sát theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", làm sao phát huy dân chủ cho sự tiến bộ của đất nước?

Thiết nghĩ, trong hoàn cảnh hiện tại, không nên đặt câu hỏi "phản biện hay "tát nước theo mưa" như một bạn đọc TVN đã nêu ra, mà nên tạo điều kiện hơn nữa, khuyến khích hơn nữa những ý kiến phản biện từ mọi giai tầng trong xã hội. Bởi một lẽ đơn giản: những ý kiến phản biện hiện tại vẫn còn ít lắm, so với mật độ dày đặc của những bất cập, những vụ việc khiến người dân phải bức xúc.

Không chỉ những trí thức khoa bảng, mà bất cứ người dân nào - từ ý thức trách nhiệm công dân của mình - cũng nên và cần mạnh dạn nêu ý kiến phản biện, nâng cao chất lượng phản biện, để hoàn thiện hóa chính quyền "do dân, vì dân" như chúng ta mong đợi.

Chớ sợ "địch" "xuyên tạc", "bôi nhọ" "ta", hãy sợ khi chúng ta không ai dám nói ra điều trung thực. Hơn 60 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong “Sửa đổi lối làm việc”, “Thuốc đắng giã tật”, v.v… (với bút danh X.Y.Z.), đã nghiêm khắc khuyên giới cán bộ - những người theo lời cụ, là “đày tớ của nhân dân” - bao giờ cũng nên nói thật, nói thẳng, nói hết. Chỉ như thế mới mong khắc phục được những yếu kém, và khiến “kẻ địch” không thể “phá hoại” được “ta”.

Có những cán bộ tưởng rằng: nếu công khai phê bình những khuyết điểm của mình, thì sẽ có hại vì:

- Kẻ địch lợi dụng để phản tuyên truyền;

- Giảm bớt uy tín của đoàn thể và chính quyền;

- Làm mất thể diện của cán bộ đã phạm khuyết điểm ấy;

- Chỉ phê bình qua loa ở nội bộ là đủ rồi.

Thế là tưởng lầm. Thế là ốm mà sợ thuốc. Thế là không hiểu ý nghĩa và lực lượng phê bình.

Nếu không muốn để kẻ địch phản tuyên truyền thì không gì hơn là tránh các khuyết điểm, sửa chữa khuyết điểm.

Một khi đã phạm đến khuyết điểm, thì dù mình muốn bưng bít, người ta cũng biết. Phải nhớ câu tục ngữ “sừng có vạch, vách có tai”.

Một đoàn thể hoặc chính quyền mà che giấu khuyết điểm của cán bộ mình, là một đoàn thể hoặc chính quyền yếu ớt, thoái bộ. Đoàn thể và chính quyền có can đảm vạch rõ khuyết điểm của cán bộ mình, có phương pháp sửa chữa cho cán bộ, thì chẳng những uy tín không giảm mà lại thêm cao.

Cán bộ nào không dám công khai thừa nhận khuyết điểm của mình, e sợ lời phê bình của đồng sự và của nhân dân, không có can đảm sửa chữa khuyết điểm thì những người đó không xứng đáng là cán bộ.

Việc phê bình phải từ trên xuống và từ dưới lên. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự, phê bình chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa thì sự phê bình mới hoàn toàn.

Đọc lại những dòng này, cũng là để thấu hiểu và làm đúng tinh thần theo những gì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra!

Cuộc chiến Việt Nam dưới mắt một ký giả Hung

0 nhận xét



Cách đây 9 năm, nhân 25 năm sự kiện 30-4-1975, Aczél Endre - một chuyên gia chính trị học uy tín, một ký giả gạo cội của Hungary - có viết một bài "tổng quan" về cuộc chiến Việt Nam, đăng trên tuần báo "168 giờ" (168 óra), Hungary.

Bài cũ rích, không có gì đặc sắc vì chỉ mang tính "điểm xuyến", nhưng bài viết cũng cho thấy vài nét trong cái nhìn của giới ký giả thời "hậu cộng sản" của một quốc gia Đông Âu về Bắc Việt, một cựu đồng minh của họ. Thời chiến, Hungary là một nước đã hỗ trợ Bắc Việt Nam rất nhiều, cả về tinh thần và trong thực tế - đặc biệt là chừng 600 quân nhân Hungary đã có vai trò rất đáng kể (thiên vị và hướng về miền Bắc :)) với hoạt động gìn giữ hòa bình của họ, trong khuôn khổ Ủy ban Kiểm tra và Giám sát Quốc tế về Hiệp định Paris về Việt Nam (thời kỳ 1973-1975).

(*) Minh họa: TS Déri Miklós (giữa), một trong 2 cựu chiến binh Hungary đã giám sát, chứng kiến sự ra đi của những người Mỹ cuối cùng khỏi Việt Nam. (Ảnh chụp ngày 29-4-2009)

VIỆT NAM, 25 NĂM TRƯỚC

25 năm trước, sáng ngày 30-4-1975, tại Sài Gòn, một chiếc xe tăng T-54 của Bắc Việt đã đè nát cánh cửa Dinh Độc lập (phủ tổng thống Nam Việt Nam) và sau đó ít phút, những người lính tràn vào đã cắm lá cờ 2 màu xanh, đỏ với 5 ngôi sao vàng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Việt Nam (phương Tây thường gọi bằng cái tên Việt Cộng) lên tòa nhà.

Với hành động mang tính tượng trưng này, cuộc chiến Việt Nam - kéo dài từ thời tổng thống Kennedy đến những ngày cùng của Nixon - đã chấm dứt. Bắc Việt đã nuốt chửng Nam Việt, đất nước bị chia đôi được thống nhất.

Việt Nam chính thức bị phân chia vào năm 1954. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam không bao giờ chấp nhận trạng thái này. Sáu năm sau đó, Việt Cộng bắt đầu hoạt động và khởi sự cuộc chiến tranh du kích chống lại thể chế miền Nam. Vì thực dân Pháp đã hoàn toàn rút khỏi Đông Dương, Hoa Kỳ trở thành người bảo trợ cho "thế giới tự do" miền Nam.

Trong 4 năm đầu, sự can thiệp của Hoa Kỳ còn khá hạn chế: ở miền Nam Việt Nam, những đơn vị Sài Gòn có nhiệm vụ chống lại quân du kích được nhận chỉ huy người Mỹ, và những lực lượng đặc biệt (Special Forces) - thường được gọi bằng cái tên "mũ nồi xanh" - chỉ xuất hiện một cách rải rác, cũng để chống lại phong trào du kích. Tuy nhiên, chẳng bao lâu, ai nấy đều thấy rằng quân đội miền Nam không thể đè bẹp một phong trào thống nhất được miền Bắc ủng hộ "hết mình", song chủ yếu vẫn dựa vào các phần tử miền Nam.

Rốt cục, ngay trong thời tổng thống Johnson, đã có hàng chục ngàn, rồi hàng trăm ngàn binh lính Hoa Kỳ bước chân vào mảnh đất Việt Nam, và chẳng mấy chốc, cuộc chiến đã lan rộng ra cả nước. Ở miền Nam, quân lực Mỹ (Army) tìm cách thanh toán các đơn vị Việt Cộng và tại miền Bắc, không lực Mỹ (Air Force) "trừng phạt" hậu phương của quân du kích.

Tuy nhiên, nếu nhìn trên một phương diện nhất định, có thể thấy những cố gắng trên đã khá vô hiệu quả. Bằng chứng là cuộc tấn công của Việt Cộng trong dịp tết Mậu Thân 1968, nhằm vào các thành phố miền Nam, trong số đó có thủ đô Sài Gòn. Trong chiến dịch này, Việt Cộng tuy không giữ được trong thời gian dài những cứ điểm mà họ chiếm được, song họ đã đạt được một mục đích: khiến công luận Hoa Kỳ cảm thấy chán ngán cuộc chiến. Một mặt, tinh thần anh dũng của quân du kích và những hành động "cảm tử" của họ; mặt khác, hình ảnh những người du kích bị đối xử một cách dã man, đã tạo được ảnh hưởng của chúng. Nhiều người tin rằng Hoa Kỳ muốn tìm cách vùi dập những lực lượng giải phóng dân tộc của một quốc gia Á châu xa xôi. Từ đó trở đi, nổi lên một phong trào phản chiến trên khắp nước Mỹ, thậm chí, có lẽ trên cả nửa địa cầu; phong trào đó đã được tiếp sức bởi một thực tế đơn giản: theo ý nghĩa quân sự, chàng anh hùng David đang đối đầu với người khổng lồ Goliat. Và con người ta thường có bản năng đồng cảm với kẻ yếu.

* Bắc và Nam.

Trong thời gian 1968 - 1972, cùng với tất cả những điều nói đến ở trên, hàng chục ngàn lính Mỹ đã bỏ mạng nhằm mục đích thanh toán phong trào du kích và đánh quỵ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giúp chính quyền Sài Gòn tồn tại bằng một cách nào đó và lập nên một rào chắn chống sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, sự hy sinh của họ (58 ngàn binh lính Hoa Kỳ đã thiệt mạng trong suốt cuộc chiến) là vô ích. Cuối cùng, cuộc chiến tranh bị đa số dân chúng chán ghét đã không đem lại những kết quả quân sự như ý, khiến Hoa Kỳ phải lựa chọn con đường "ra đi trong danh dự". Tháng Giêng 1973, trong cuộc hòa đàm bốn bên ở Paris, một hiệp định đã được ký kết, theo đó chính thể miền Nam và các lực lượng vũ trang của Việt Cộng vẫn
ở nguyên vị trí của họ (một hình thức phân chia lãnh thổ miền Nam); miền Bắc đảm bảo nền hòa bình và quân đội Mỹ rút khỏi Việt Nam.

Cố nhiên, kịch bản - theo đó những phe phái đối nghịch ở miền Nam chịu hòa hoãn với nhau và Nam Việt Nam được độc lập dưới sự kiểm soát của một chính phủ dân chủ thống nhất - rõ ràng là không có sức sống. Ngay sau khi quân đội Mỹ rút khỏi miền Nam, sự đình chiến - mà người viết bài này cũng tham gia quá trình kiểm soát trong một thời gian ngắn ngủi - trở nên hỗn loạn hẳn. Chính quyền Sài Gòn và Việt Cộng chỉ bận tâm đến việc tăng cường vị thế của mình, họ lấn chiếm của nhau từng tụ điểm chiến lược.

Ai nấy đều biết: việc Đảng Cộng sản Việt Nam dụng công lật đổ chính thể Sài Gòn chỉ còn là vấn đề thời điểm. Quyết định được đưa ra vào cuối năm 1974. Mùa xuân 1975, bắt đầu "cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc": cuộc chiến đó tuy được miền Bắc gán cho bộ quần áo của Việt Cộng và trá hình như một cuộc khởi nghĩa nhân dân, nhưng kỳ thực, nó không hề có chút "cách mạng" và "dân tộc" nào, mà là một cuộc đụng độ chính qui, được thực hiện bằng những công cụ truyền thống nhất.

* Cuộc chiến chớp nhoáng.

Theo những số liệu của sách vở phương Tây mà Bắc Việt không bao giờ công nhận, 22 sư đoàn Bắc Việt vượt giới tuyến và trong vòng 50 ngày, đạo quân đó đã đè bẹp một cách dễ dàng sự phản kháng của quân đội Sài Gòn. Người Mỹ không hề can thiệp, ngoại trừ hành động cứu trợ: dùng máy bay trực thăng và tàu bè đưa bộ máy (cố vấn) quân sự Hoa Kỳ còn sót lại miền Nam, và một phần nhỏ giới lãnh đạo Nam Việt Nam, ra nước ngoài.

Và chẳng mấy chốc, quá trình "cộng sản hóa" miền Nam được tiến hành. Quá trình đó được biểu lộ rõ rệt khi quyền hành bề ngoài của những cán bộ - từng mang danh "dân tộc" - của Việt Cộng được trao cho những cán bộ đảng từ miền Bắc tràn vào, và sự hòa hợp dân tộc được tuyên bố trong thời gian trước đó cũng hoàn toàn bị bác bỏ. Hàng trăm ngàn nhân viên và quân nhân (tham chiến theo chế độ nghĩa vụ quân sự) của chính thể miền Nam bị tống vào những "trại cải tạo". Năm 1977, những cơ sở công nghiệp và thương mại trong tay cá nhân bị đưa vào sở hữu nhà nước, nền nông nghiệp bị tập thể hóa. Chỉ riêng ở Sài Gòn, chính sách sở hữu hóa công nghiệp đã khiến một triệu người Việt gốc Hoa mất mọi điều kiện sinh sống; công cuộc tập thể hóa nông nghiệp dẫn đến tình trạng thiếu thực phẩm, gây nên nạn đói ở đầu thập niên 80.

Nhưng các lãnh đạo Bắc Việt hoàn toàn say sưa với thành công trong việc biến đổi miền Nam theo hình mẫu của họ. Công cuộc "giải phóng miền Nam", thống nhất đất nước, niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản đã dẫn họ vào cuộc phiêu lưu chinh phục Campuchia (1979); vì cuộc chiến đó, ngoài việc bị Trung Quốc "trừng phạt" về quân sự, họ còn phải trả giá đắt trên mọi phương diện.

* Nhịp độ Trung Quốc

Chuyển biến chỉ diễn ra vào năm 1986, khi dưới ảnh hưởng của Liên Xô thời kỳ Gorbachev - người bạn tốt duy nhất còn duy trì mối quan hệ với Việt Nam - cánh "cải tổ" đã thắng thế trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam và đã "mở cửa" Việt Nam, một phần cho những doanh nghiệp tư nhân nhỏ, một phần cho đầu tư nước ngoài. Kết quả là trong nửa đầu của thập niên 90, Việt Nam phát triển với nhịp độ "bão táp", sự phát triển đạt đến mức độ của Trung Quốc, "người anh cả" vẫn được Việt Nam coi là chuẩn mực. Nhưng, cho đến ngày hôm nay, đội "cận vệ" giáo điều cũ - những trợ thủ theo trường phái vị chủ tịch Hồ Chí Minh đã quá cố - vẫn giữ ảnh hưởng lớn trong đảng, những cải tổ bị kìm hãm với thời gian. Giai đoạn thứ hai, mang tầm quan trọng quyết định - khi Việt Nam phải thực hiện quá trình tư hữu hóa, phải tạo những điều kiện thuận lợi cho tư bản nước ngoài đầu tư vốn, và phải giảm thiểu bộ máy quan chức cộng sản đã bành trướng đến mức khó tưởng tượng nổi, cùng những tệ nạn quan liêu, hối lộ, đồi bại... - đã tỏ ra chậm trễ đến ngày hôm nay.

Một điểm đặc biệt của lịch sử: miền Nam, nơi diễn ra cuộc chiến, sau thời kỳ tan rã ban đầu, đã phát triển hơn nhiều so với miền Bắc "giải phóng". Sài Gòn, dù bị đổi tên thành "Thành phố Hồ Chí Minh", nhưng vẫn là Sài Gòn. Ở Nam, kinh tế cá thể phát triển hơn nhiều và nguồn vốn đầu tư địa phương cũng phong phú hơn nhiều so với miền Bắc. Cũng chính bởi những lý do đã khiến miền Nam, và miền ven biển phía Nam, Đông Nam Trung Quốc đã phát triển hơn miền Bắc nước này: ở cả 2 nước Trung Quốc và Việt Nam, những người di tản, tị nạn, định cư ở nước ngoài phần lớn ra đi từ miền Nam và sau khi đã tự tạo cho mình một cuộc sống ổn định, họ bắt đầu gửi tiền và đầu tư về quê hương. Cạnh đó, nhờ việc phục hồi lại "thị trường", ngày nay, ở Sài Gòn, cuộc sống sinh động hơn nhiều so với Hà Nội: Sài Gòn nhiều xe hơi, xe máy, quán xá, vũ trường, nơi giải trí... hơn Hà Nội; người ta còn bảo số gái mại dâm ở Sài Gòn cũng nhiều gấp bội so với Hà Nội. Theo những kẻ "xấu bụng", con số này đã gần bằng thời người Mỹ còn ở Việt Nam.

(HL dịch)