2/11/08

Sống chết mặc bay

7 nhận xét



Nhân cô giáo Minh có nhu (yêu) cầu "ôn cố tri tân" 1 truyện ngắn nổi tiếng sáng tác cách đây tròn 90 năm, của ông chú Quang, phá lệ (là blog chỉ đăng tin, bài... "chính chủ"), bốt lại "Sống chết mặc bay" kèm một số tư liệu tham khảo "trích giảng văn học" để tập làm văn, nếu cần.

*

Nhà văn Phạm Duy Tốn (1883-1924) sinh ở Hà Nội, quê làng Phượng Vũ, huyện Thường Tín - Hà Tây. Năm 1901 sau khi tốt nghiệp Trường Thông ngôn, ông làm phiên dịch tại Tòa thống sứ Bắc Kỳ. Được một thời gian xin thôi để viết báo. Ông từng cộng tác với các báo "Đại Việt tân báo", "Nông cổ mín đàm", "Đông Dương tạp chí", "Lục tỉnh tân văn", "Nam Phong tạp chí", "Trung Bắc Tân văn". với các bút hiệu: Ưu Thời Mẫn, Thọ An, Đông Phương Sóc, Phạm Duy Tốn.

Phạm Duy Tốn là người "Tây học" cho nên chịu ảnh hưởng ít nhiều đến xu hướng viết văn. Nhìn chung truyện ngắn của ông phản ánh cuộc sống theo hướng hiện thực chủ nghĩa, sáng tác của ông tố cáo một số cảnh bất công độc ác dưới chế độ thực dân nửa phong kiến: ở thành thị là đồng tiền và lối sống cá nhân tư sản, phá hoại hạnh phúc gia đình gây ra lối sống bừa bãi, lường đảo, còn ở nông thôn là cuộc sống của người nông dân khốn khổ, bấp bênh vì lụt lội đói kém vì nạn quan tham coi rẻ mạng người. Tiêu biểu cho tinh thần tố cáo xã hội là truyện "Sống chết mặc bay". Ông là một trong số những người có công đầu phát triển thể loại truyện ngắn và nền văn xuôi hiện đại nước ta.

Tác phẩm chính: "Bực mình" (1914); "Sống chết mặc bay" (1918); "Con người Sở Khanh" (1919); "Nước đời lắm nỗi" (1919). Ngoài ra ông còn soạn "Tiếu lâm quảng ký" (3 tập) với bút hiệu Thọ An.

*

SỐNG CHẾT MẶC BAY

Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá; khúc đê làng... thuộc phủ... xem chừng núng thế lắm, không khéo thì vỡ mất.

Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức gìn giữ, kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy, ngập quá khuỷu chân, người nào người ấy, lướt thướt như chuột. Tình cảnh này trông thật là thảm.

Tuy đánh trống liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác, gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai cũng mệt lử cả rồi. ấy vậy mà trên trời thời mưa vẫn tầm tã trút xuống, dưới sông thời nước cuồn cuộn bốc lên. Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất!... (1)

Ấy, lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân hèn yếu đuối mà đối với sức mưa to lớn, để bảo thủ lấy tánh mạng gia tài; thế thời quan cha mẹ ở đâu?

Thưa rằng: Đang ở trong đình kia, cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy cũng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng không việc gì.

Trong đình, đèn thắp sáng trưng; nha lệ lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng. Trên sập mới kê ở gian giữa, có một mình quan phụ mẫu, uy nghi chễm chện ngồi. Xung quanh sập, bắc bốn ghế mây, bắt đầu từ phía hữu quan, thì có thầy đề, rồi lần lượt đến thầy đội nhất, thầy thông nhì, sau hết, giáp phía tay tả ngài, thì đến chánh tổng sở tại, cùng ngồi chầu bài.

Ngoài kia tuy mưa gió ầm ầm dân phu rối rít; nhưng trong này xem chừng tĩnh mịch nghiêm trang lắm, trừ quan phụ mẫu ra, mọi người không ai dám to tiếng. So với cảnh trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đoàn sâu lũ kiến ở trên đê, thời ở trong đình rất là nhàn nhã, đường bệ, nguy nga: nào quan ngồi trên, nào nha ngồi dưới; người nhà, lính lệ như khoanh tay sắp hàng, nghi vệ tôn nghiêm, như thần như thánh. Thỉnh thoảng nghe tiếng quan phụ mẫu gọi: "Điếu, mày!" tiếng tên lính thưa: "Dạ"; tiếng thầy Đề hỏi: "Bẩm, bốc?" tiếng quan lớn truyền "ừ". Kẻ này: "Bát xách... Ăn", người kia: "Thất văn... Phỗng", lúc mau, lúc khoan, ung dung êm ái, khi cười khi nói, vui vẻ dịu dàng. Thật là tôn kính, xứng đáng với một vì phúc tinh...

Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọ, bỗng nghe ngoài xa, tiếng kêu vang dậy trời đất... Mọi người giật nẩy mình, duy quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ. Vì ngài sắp ù to.

Có người khẽ nói:

- Bẩm, đê có khi vỡ!

Ngài cau mặt gắt rằng:

- Mặc kệ.

Rồi ngài xếp lại bài, quay gối dựa sang bên tay phải, nghiêng mình, bảo thầy đề lại:

- Có ăn không thì bốc chứ!

Thầy đề vội vàng:

- Dạ, bẩm bốc.

Vừa lúc đó, thì tiếng người kêu rầm rĩ, càng nghe, càng lớn. Lại có tiếng ào ào như thác chảy xiết; rồi lại có tiếng gà, tiếng chó, trâu, bò kêu vang tứ phía.

Bấy giờ ai nấy ở trong đình, đều nôn nao sợ hãi. Thốt nhiên một người nhà quê, mình mẩy lấm láp, tất tả chạy xông vào, thở không ra lời:

- Bẩm... quan lớn... Đê vỡ rồi!

Quan lớn đỏ mặt, tía tai, quay ra, quát rằng:

- Đê vỡ rồi!... Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không?... Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?

- Dạ, bẩm...

- Đuổi cổ nó ra!

Ngài quay vào, hỏi thầy đề:

- Thầy bốc quân gì thế?

- Dạ, bẩm con chưa bốc.

- Thì bốc đi chứ!

Thầy đề, tay run cầm cập, thò vào đĩa nọc, rút một con bài lật ngửa, xướng rằng:

- Chi chi!

Quan lớn vỗ tay xuống sập kêu to:

- Đây rồi!... Thế chứ lại!

Rồi ngài vội vàng xòe bài, miệng vừa cười, vừa nói:

- Ù! Thông tôm, chi chi nẩy!... Điếu mày!... (2)

*

Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh sầu thảm, kể sao cho xiết! (3)

"Nam Phong tạp chí", số 18, tháng 12-1918

***

Tham khảo:

"Sống chết mặc bay" (1918) là truyện ngắn nổi tiếng của Phạm Duy Tốn được xem là bông hoa đầu mùa của truyện ngắn hiện đại Việt Nam viết bằng văn xuôi tiếng Việt hiện đại.

- Đoạn 1: Từ đầu đến "hỏng mất" - Nguy cơ vỡ đê và sự chống đỡ tuyệt vọng của người dân
- Đoạn 2: Từ "Ấy... Điếu mày!" - Cảnh quan phủ và nha lại đánh tổ tôm khi "đi hộ đê"
- Đoạn 3: Còn lại - Cảnh đê vỡ nhân dân lâm vào cảnh thảm sầu

? Tại sao tác giả viết làng X, phủ X mà không gọi tên cụ thể như gọi tên con sông Nhị Hà? ("Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá; khúc đê làng X thuộc phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất".)

? Thời gian gần 1 giờ đêm, nghĩa là thời điểm khuya khoắt, bình thường mọi người đã ngủ say. Xác định thời gian nửa đêm như thế, tác giả muốn nói điều gì? ("Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức giữ gìn, kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người ấy lướt thướt như chuột lột. Tình cảnh trông thật thảm".)

? Miêu tả cảnh tượng nhân nhân đang vật lộn căng thẳng vất vả đến cực độ trước nguy cơ đê vỡ, tác giả nhằm dụng ý gì? ("Tuy trống đánh liên thanh ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai ai cũng mệt lử cả rồi. ấy vậy mà trên trời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới sông thời nước cứ cuộn cuộn bốc lên. Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự được với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất".)

Hãy chọn đáp án đúng:
A. Nói lên thiên tai đang từng lúc giáng xuống đe doạ cuộc sống của người dân quê.
B. Nói lên sự thắng thế của con người trước thiên nhiên.
D. Nói lên sự yếu kém của thế nước trước thế đê.
C. Nói lên sự căng thẳng của quan phủ và bọn lính khi đi cứu đê.

31/10/08

Kỳ thị

21 nhận xét



Blog của Hanamyselfvn đang có đề tài kỳ thị (Tây kỳ thị ta, hoặc chính ta cũng kỳ thị ta), rất hay.

Các ví dụ Hana đưa ra về việc Việt Nam mình có xu hướng cứ thấy Tây là bái chúng nó lên làm... ông ngoại (nội), có lẽ không gọi là "kỳ thị chính người Việt ở chính trên mảnh đất hình chữ S này". Cái này, liệt vào vọng ngoại vô lối thì đúng hơn. Vọng ngoại vô căn cứ, xuất phát từ sự tự ti, có lẽ do một ngàn năm nô lệ thằng Tàu, rồi một trăm năm nô lệ thằng Tây... mà ra?

Công bằng mà nói, thằng Tây có vô số những cái hay, thông minh, văn minh (rất phổ quát)... mà dù nền văn hóa "truyền thống" của mình có khác, tập tục mình có trót "mọi rợ", "đậm đà bản sắc dân tộc" thế nào đi nữa, cũng nên thừa nhận và (âm thầm) mà học tập (có chọn lọc ;)) chúng nó. Tuy nhiên, cần gì phải nhặng xị ngậu lên như kiểu mấy cô VNA? Bình tĩnh nào!

Một điểm khác. Nói gì thì nói, mình sống ở xứ chúng nó, mình cũng cần một số thứ "nhập gia tùy tục", chứ không nên nhìn đâu cũng thấy bị kỳ thị. Suy cho cùng, sự cống hiến của mình cho xã hội Tây có lẽ không bằng dân bản địa (hiểu là chúng nó cống hiến từ nhiều đời, chứ không chỉ đời mình ;)), bổn phận, nghĩa vụ của mình với nước sở tại cũng vừa phải, "thường thường bậc trung", cho nên quyền lợi mình có ít hơn chút cũng nên chịu đựng. Đồng thời, làm sao tăng sự tự tin (hợp lý chứ đừng điên rồ) bằng phong cách sống đường hoàng, văn hóa với chúng nó, để chúng nó thấy mình cũng có chút ít kiến thức, thì đứa nào kỳ thị mình quá mức, trắng trợn quá, chúng nó cũng phải cảm thấy lố.

Liên hệ bản thân: bố cún nói chung là hiền, ít gây gổ (với người Việt Nam), nhưng "được cái" hay cãi cọ, "mắng" Hung mỗi khi cảm thấy mình bị cái gì đó không công bằng. Đến nỗi, Thu Vân phải "khen" là bố "dũng cảm", vì hay dọa dẫm, to tiếng với người bản xứ (dĩ nhiên là có lý do). Chỉ riêng chuyện mình làm được như thế (mà đến giờ chưa bị ai đánh đập, hành hung ;)) cũng chứng tỏ xã hội Tây (ở đây là Hung) tương đối lành mạnh, bình đẳng (cứ cho là trên bề mặt đi). Thử hình dung một ông Lào, Cam Bốt... láo xược như thế với dân Việt (đặc biệt là ở các cơ quan hành chính, sự vụ) xem...

Ngoài ra, ở đâu đi nữa thì người ngoại quốc cũng không có được sự công bằng (tương đối, và trên thực tế) với dân bản địa. Công ăn việc làm, nhìn chung không có người sở tại phù hợp chúng nó mới thuê mình (cái này, nhiều nơi đưa hẳn vào luật định, vì chúng nó có quyền bảo vệ thị trường lao động trong nước, mà không vi phạm cái gì cả). Mỗi lần gia hạn giấy tờ cư trú, cơ quan Ngoại kiều chúng nó hẳn nhiên là phải "hành" mình, cái đó nước văn minh mấy cũng khó tránh khỏi... Mình biết vậy để mà hành xử thôi.

Sẽ viết tiếp vài ý nữa, giờ phải đi làm cái đã...

(*) Minh họa (chả liên quan gì đến đề tài của entry): Cún phá quá trời, mấy lần lộn cổ từ cái ghế này xuống rồi...

27/10/08

Chuyện "con ở"

37 nhận xét



Blog của myselfvn ngập lụt các còm-măng về vụ ta hay Tây lịch sự, bặt thiệp hơn, rồi nhiều kết luận bất ngờ được rút ra, ví dụ hội Ấn hay "cởi truồng ra đường" (như công chức Việt Nam trong một entry khác cũng của khổ chủ ;)), hội Hồi mọi rợ nhất thế giới (phải phê bình Mẹ Scoo về trò kỳ thị này! :)), v.v... và v.v... Nhiều bác tranh thủ phóng ra thành chuyện "khác biệt văn hóa", tiện thể đá ngang sang vụ bắt bớ ký giả, nhất cử lưỡng tiện ;) Nhân đây, cám ơn myselfvn đổ bệnh, nên có được mấy tiểu phẩm xuất sắc, phục vụ bà con, hữu ích không kém gì vụ trình diễn thơ bển ;)

Tiện thể, hướng ứng bằng cách chuyển sang một câu chuyện đời thường bên này về ta và Hung cho nó lành.

Số là, những năm gần đây, để có người giúp việc và thuận tiện hơn trong công việc buôn bán, bà con Việt Nam kinh doanh tại các chợ, TTTM ở Hungary thường thuê nhân công người Hung, hoặc gốc Hung (Romania, Nam Tư...) để bán hàng. Một người quen của bố cún, rất thành công trong kinh doanh, có dạo cũng thuê một "con ở", "đầy tớ" như vậy, như cách diễn đạt của cô.

Đó là một phụ nữ trung niên người Hung, có lẽ trên dưới lục tuần, đã về hưu ít lâu. Trông cách ăn mặc và đi đứng, nói năng của bà, thì có lẽ bà không thuộc hàng những người Hung quá nghèo khổ, phải đi làm thuê cho bà con ta ngoài chợ. Về sau, có lần bà thổ lộ, về hưu ngồi không cũng buồn, bà muốn đi làm cho vui, cho những ngày già có ý nghĩa, bên cạnh việc có thêm chút thu nhập hàng ngày, không phải ỷ vào con cái. Bao giờ bà cũng ăn vận lịch sự, tỏ ra có thẩm mỹ, và cho rằng đã là người bán hàng thì phải để khách có cảm tình bởi sự nhã nhặn và bặt thiệp của mình. Cái cách ấy, khác với sự xô bồ, ồn ã của nhiều người Ru gốc Hung, sang Hung kiếm kế sinh nhai và đi làm cho người Việt. Và tất nhiên, khác với "phong thái" tất bật của "cô chủ" người Việt: lúc nào cũng đau đầu với những phi vụ "đánh hàng", nhập hàng, không còn hơi sức và thời gian đâu để quần áo, cư xử cho tử tế, đúng mực với khách.

Đã phận "con ở", hình như không người chủ nào thích "ôsin" của mình lại... "trí thức" hơn mình (*). Có lẽ đây là cái khổ của bà Hung. Bà có lối ăn nói rất tự tốn, có học (bà từng kể rằng ở nhà, chưa bao giờ bà nói nặng, hay dùng từ gì có thể xúc phạm đến con cái, kể cả những từ mà dân Việt bập bẹ tiếng Hung cũng rất hay "phát ra", như "hülye" - "dở hơi"), ngược hẳn với "cô chủ", do ở Hung lâu rồi nên nói "bồi" rất thạo, nhưng với bất cứ ai cũng chỉ biết cách xưng hô "mày", "tao", mà coi đó là sự thường. Những lúc không có khách, tạm được nghỉ ngơi, thay vì tán chuyện thị phi, đồn đại "con nọ với thằng kia", bà thường nói chuyện điện ảnh, văn hóa..., rất xa lạ với chợ búa.

Một số mâu thuẫn khác thì bắt nguồn từ sự khác biệt quan niệm, hay nói màu mè là "văn hóa doanh nghiệp Đông - Tây". Trái với "cô chủ", thấy khách vào cửa hàng là phải bật dậy, chạy ra săn đón, mời chào ồn ào, lắm khi phản cảm, bà Hung chủ trương giữ một khoảng cách nhất định với khách, nhiệt tình nhưng nhã nhặn, đừng tạo cho khách cảm giác bị quấy rầy trong sự lựa chọn của họ. Đi bán hàng, nhưng bà không biết cách chửi bậy, mắng nhiếc khách, và tỏ ra hoảng hốt khi thấy mấy người Việt bán ở quầy bên cạnh chửi khách như hát hay, những lúc, khách không mua, hoặc "dám nhiễu sự" đòi thử quần áo, hay ý kiến ý cò này nọ. Rồi, bà còn phạm một sai lầm thảm khốc, khi bày tỏ quan niệm cho rằng, làm việc cũng chỉ nên có giờ giấc thôi, cũng cần có thời gian cho những sinh hoạt về "phần hồn", hoàn toàn ngược lại với "cô chủ" tham công tiếc việc, quan niệm "chủ" ở đến bao giờ thì "đầy tớ" làm đến lúc ấy, không có khái niệm nghỉ ngơi khi đã được thuê.

Là một người có lòng tự trọng nên bà Hung ngầm cảm thấy xúc phạm và phật ý, tuy không nói ra, mỗi khi cô chủ ăn nói với bà kiểu mắng nhiếc, trống không, hoặc đơn thuần là dùng lời lẽ kiểu mệnh lệnh. Mỗi lần "cô chủ" đến cửa hàng là bầu không khí căng thẳng hẳn: cô sai cái nọ, nạt cái kia, "cải cách" liên hồi, với ý "mình đã thuê "đầy tớ" thì không thể để "nó" ngồi yên". Có lẽ cũng vì những bực mình như vậy mà khoảng thời gian bà "cộng tác" với "cô chủ" không được dài: hẳn, lúc chia tay, bà không có được ấn tượng tốt về một "sứ giả" của Việt Nam ở nước ngoài, là doanh nhân thành đạt nọ.

Câu chuyện nhỏ, nhưng ít nhiều cũng tiêu biểu cho một trong những hình thức "giao lưu" ít ỏi giữa một bộ phận không nhỏ bà con ở đây với người bản xứ. Hẳn nhiên, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông Tây khó tránh được những bất đồng, khác biệt, cái đó ai cũng biết. Trong những dị biệt giữa "ta" và "người", có cái xuất phát từ sự khác nhau giữa hai quan niệm, hai nền văn hóa (có thể khó khắc phục), nhưng cũng có cái bắt nguồn chính từ sự thiếu văn hóa của chính chúng ta, điều ảnh hưởng không ít đến sự nhìn nhận của người dân sở tại với cộng đồng Việt.

Bà con ta bên này, gần đây, cũng có một số nỗ lực nội nhập, như tham gia hay tổ chức các hoạt động từ thiện đối với trẻ em, hay người gặp cảnh khó khăn ở Hung. Mới đây, một hội từ thiện đầu tiên của người Việt ở Hungary đã được thành lập. Những cố gắng ấy là rất quý, nhưng e rằng kết quả sẽ không là bao, nếu từng thành viên của cộng đồng, trong đời sống hàng ngày, không có được tinh thần "nhập gia tùy tục" để có cách hành xử thích hợp với người dân bản địa...

Minh họa: Nơi kinh doanh của rất nhiều "cô chủ" Việt Nam tại Budapest. Cái cổng này, Mẹ Scoo đã nhiều lần tác nghiệp, mọi nhẽ...

(*) Bác TS kiêm nhà báo Nguyễn Huy Hoàng bên Nga có kể chuyện một chị (nguyên) là cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, sang Moscow làm ôsin cho một nhà nọ, đang yên đang lành không có vấn đề gì, đột nhiên can một tội tày đình là có hôm nảy ra ý xin được đi chụp ảnh Hồng Trường! Thêm vào đó, "khi ông chủ bà chủ đã ngon lành giấc điệp, chị còn nhiều lần cao hứng bật đèn làm thơ và ghi nhật ký" - nên rốt cục bị mời khỏi nhà. ;) (myselfvn lưu ý vụ này!)

25/10/08

Trĩ

6 nhận xét



Chuyện Y tế Việt Nam đòi hỏi người điều khiển phương tiện xe gắn máy phải đáp ứng bảy, tám chục "tiêu chí" gì đó về sức khỏe, trong đó có cả những dữ kiện, thông tin cá nhân "thầm kín" của người dân như vòng nọ vòng kia, rồi... trĩ nội trĩ ngoại (cái này có lẽ thuộc phạm trù... vệ sinh dịch tễ, thì đúng hơn là giao thông nhỉ ;)), báo chí, bờ-nốc đã bàn sa sả, đọc vui và buồn khôn tả.

Nhưng mà không thấy mấy ai nói đến cái nằm đằng sau nó nhỉ?

Chính quyền nắm quyền, nên họ có thể thản nhiên ra quyết định này nọ, nếu dân chịu (dù hậm hực). Báo chí, blogger tha hồ bảo "sáng kiến" của Bộ Ý tế là phi lý, là nực cười, là phân biệt đối xử, kỳ thị, là... vi hiến, hay... ngu dân đi nữa... nhưng dăm ba ngày nữa, lại có một quyết định... phi lý khác ra đời, thì vụ "vòng ngực phải như Thủy Top mới được lái máy bay" này cũng trôi vào dĩ vãng thôi. Công an (hay tự vệ, dân phòng phường, cái hội kiêu binh bảo ông dân biểu Dương Trung Quốc là già mà ngu ấy) tha hồ khám... trĩ, ai làm gì được?

Nói chung, dân thế nào thì chính quyền như vậy. Những "phép thử" kiểu mở rộng Hà Nội, cấm người loét dạ dày lái xe... sở dĩ dạo này "nở rộ", vì chính quyền cũng muốn thử nghiệm xem sức chịu đựng (về thể xác và tinh thần) của người dân đến đâu. Mà chính quyền cũng có giấu giếm ý định của mình đâu: các quan chức Y tế, khi bị dân kêu nhiều quá, thì hòa nhã đáp: chúng tôi ra luật vì lợi ích bà con mà, nhưng nếu bà con bảo không phù hợp, thì bình tĩnh, để chúng tôi... từ từ điều chỉnh ;)

Tất nhiên, có thể chất vấn các vị ấy là, có nên tiêu tốn thời gian và tiền bạc của dân để ra những "sáng kiến" ngu si ấy không, trong khi có một cách làm bình thường ở một xã hội bình thường, là tham khảo ý dân và các nhà khoa học độc lập? Cũng có thể cáu sườn mà bảo là, quan chức mà phát biểu... xuẩn ngốc như thế, ở nước ngoài bị tuốt chức từ lâu rồi, v.v...

Nhưng Việt Nam là Việt Nam và những "phép thử" này, rất có thể sẽ vẫn dẫn đến một kết quả thành công: rốt cục, dân cũng chịu thôi, vì được các "quan" lo cho tính mệnh hàng ngày mà, sao lại từ chối ;)

(*) Minh họa: để tăng kiến thức y học cho các bạn lái xe, nhưng chưa rành về các loại trĩ :((

TB. Một trao đổi hôm qua với một bạn làm báo ở nhà:

- Đồng ý là nên thử nghiệm, nhưng sao Bộ Y tế không thử nghiệm trước trên... súc vật, như thông lệ của Y tế nhỉ?

- Vâng, nhưng súc vật nó có cần đi xe gắn máy đâu ;)

- (Nghĩ thầm) Ừ nhỉ. Với cả các bác Y tế không thấy bọn súc vật lên tiếng phản đối, thì cũng sẽ kết luận là chúng nó đồng ý thôi :)

23/10/08

Cứu trợ

6 nhận xét



Tháng Mười không chỉ là tháng của những cuộc cách mạng, mà đối với Việt Nam ta, còn là tháng... vì người nghèo.

Bên này cũng vậy: chắc dăm ba bữa nữa, sẽ lại có những thông báo kêu gọi bà con "hưởng ứng chương trình hành động của cơ quan XYZ [trong nước]", rồi có đoàn đi các chợ "gõ đầu" các hộ kinh doanh "tự nguyện" ủng hộ đồng bào đang trong cảnh khó khăn.

Phải nói ngay rằng, không ai tiếc hay ngần ngại khi ủng hộ cho những mục đích từ thiện (như giúp các bà mẹ, em nhỏ trong cảnh khốn khó, cho đồng bào bị bão lũ, thiên tai, địch họa...) Tuy nhiên, những đợt quyên góp thường niên (thường lệ) ấy luôn đụng chạm đến một vấn đề cốt yếu là niềm tin: người ủng hộ rất muốn được tin rằng số tiền đó sẽ được sử dụng đầy đủ, kịp thời và đúng mục đích một cách tốt nhất.

Trong rất nhiều trường hợp, những người nhận & phân bổ tiền quyên góp ở Việt Nam chưa đáp ứng được niềm tin ấy - về chuyện này, báo chí cũng đã đăng tải không ngớt. Nhiều người cho rằng, nếu một bà mẹ Việt Nam (anh hùng) được nhận một ngôi nhà tình nghĩa (đâu chỉ cần hơn hai chục triệu là tạm đủ), thì đã có một số tiền tương đương với ngôi nhà ấy bị ăn chặn, bị bỏ túi ở tất cả các cấp. Gần đây, TVN có đăng bài viết ngồ ngộ "Đôi điều thắc mắc xin được hỏi về... tiền cứu trợ", nhưng xem chừng thắc mắc cũng vô hiệu mà thôi: đây là vừa là "chuyện cơ chế", vừa là "yếu tố con người".

Nhân kỷ niệm cách mạng Hung 23-10, nhớ lại một câu chuyện cũ để lại trong tôi ấn tượng rất mạnh. Hơn nửa thế kỷ trước, cuối tháng 10-1956, người dân Hung làm cuộc khởi nghĩa đòi dân chủ, độc lập và chủ quyền dân tộc. Dĩ nhiên, Liên Xô đưa đại bác và chiến xa vào can thiệp, Hung không thể địch lại; rất nhiều gia đình có cha mẹ, con cái bị thiệt mạng, cả mấy trăm ngàn người Hung - trong đó có nhiều trí thức, nhiều nhân vật kiệt xuất, sau này được Nobel này nọ - phải chạy ra nước ngoài.

Trong cảnh tang thương ấy, một nhóm sinh viên trẻ đã tìm gặp các thành viên Hội Nhà văn Hungary, yêu cầu họ giúp đỡ để quyên tiền cho các gia đình có thân nhân bị chết trong cuộc cách mạng. Sau một hồi bàn bạc, 5 chiếc thùng lớn (vốn để đựng đạn dược) đã được đặt ra tại 5 điểm trong thành phố. Chỉ trong một đêm, số tiền thu được rất nhiều, một chiếc thùng đã đầy tú ụ tiền. Tổng cộng, 290 ngàn Forint (đơn vị tiền Hung) đã được quyên góp và đó là một số tiền khổng lồ thời bấy giờ!

Nhà văn Fekete Gyula, thư ký Hội Nhà văn Hung thời đó, hồi tưởng: hầu như bất cứ ai đi qua đều gom tiền, không ai kêu ca một câu. Ngoại trừ 1 cú điện thoại bực bội: "Tại sao các anh lại để bảo vệ cầm súng gác chiếc thùng? Các anh nghĩ có ai dám đánh cắp tiền chắc?"

Hóa ra là chỉ ở một điểm đặt thùng trong thành phố, có một anh bảo vệ tích cực tự đi lại trông thùng, chứ không ai cắt cử anh ta cả...

Vài năm trước, khi tôi kể lại câu chuyện này trên một diễn đàn trên Liên mạng, một bạn trẻ chất vấn ngay: chuyện nghe như... cổ tích, chắc gì đã là thật?

Thắc mắc ấy rất... hợp lý, nhưng tôi đã không giải thích cho bạn trẻ kia, tỉ dụ, có những thời, những lúc, hàng cứu trợ đã được sử dụng đúng mục đích và việc không trộm cắp, xà xẻo nó được coi là tự nhiên, chứ không có gì đáng phải bàn cả.

Vì, có nói ra lớp trẻ bây giờ chắc cũng chẳng tin...

(*) Ảnh: dân Hung quyên tiền giúp đỡ các nạn nhân trong cách mạng 1956.

14/10/08

Nguyễn Việt Chiến

12 nhận xét



Trưa 15-10-2008. Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Việt Chiến chịu bản án tù giam 2 năm, sau khi cương quyết và đường hoàng phủ nhận tội danh mà anh bị cáo buộc tại phiên tòa. Như vậy, anh đã giữ đúng những lời nói với đồng nghiệp khi bị bắt: "Tôi không có tội gì, tôi chỉ có tội duy nhất là tội tích cực chống tham nhũng... tôi sẽ đấu tranh đến cùng để bảo vệ lẽ phải cho mình”.

*

Một người bạn ở Việt Nam cho biết: "Hôm nay Hà Nội mưa dầm, chuyển mùa, lạnh lẽo và bất an anh ạ".

Cảm giác bất an ấy còn thể hiện trên rất nhiều blog, dạo trước từng lên tiếng khi hai ký giả bị bắt, thì bây giờ im lìm. Chắc ai cũng ngại bị "quản lý"...

*

Mấy tháng trước, lúc anh Chiến bị bắt tạm giam, nhà báo Huy Minh (TTXVN) có đặt câu hỏi: "Tại sao trong vụ án này, lại có quá nhiều người buồn đến vậy?" Tôi cũng đang như anh Việt Chiến, “bất lực trong cách giải thích” và cũng chẳng có gì cả, “ngoài những nỗi buồn”.

Chắc chắn, trong ngày hôm nay, rất nhiều người Việt có nỗi buồn như thế, dù có nói ra hay không. Như ở đây, và ở đây...

*

Dù bị gọi là "nguyên nhà báo", nhưng Nguyễn Việt Chiến còn là một nhà thơ và chắc sẽ mãi là một nhà thơ, để còn vịn vào câu thơ mà đứng dậy những khi ngã lòng...

Hãy vào đây đọc thơ Nguyễn Việt Chiến, và cùng mùa thu "tiễn anh qua miền phố vắng".

Vắng anh thu này, chắc Hà Nội buồn lắm, anh Chiến ạ...


(*) Ảnh của Na Sơn: Vợ của bị cáo Nguyễn Việt Chiến, nguyên phóng viên nội chính báo "Thanh Niên" sau phiên tranh tụng chiều 14-10-2008.

...

4 nhận xét



Nghe bản thu âm phiên tòa, anh Chiến trả lời đĩnh đạc và đường hoàng! Còn những câu vặn vẹo, thậm chí cắt ngang anh Chiến (chắc sợ... anh ấy nói ra nhiều cái "bất tiện"?) của ông đại diện HĐXX, thấy quá thảm hại và nhếch nhác. Thậm chí bất lịch sự! Buồn! :((

Ngẫm lại, sao đưa tin mà khổ như thế? Nếu đưa tin mà phải "phối kiểm thông tin từ 5 nguồn" như anh Chiến khẳng định, thì làm tin như thế là quá cẩn trọng còn gì? Nhà báo chỉ cần có nguồn là đủ, dẫn được ra nguồn là đủ, chuyện xác thực hay không, đúng sai đến đâu có phải là bổn phận của nhà báo đâu. Ký giả cũng không phải là thám tử hay... mật vụ mà phải làm thay việc của cơ quan điều tra.

Vừa vừa phải phải thôi, thì còn chịu được...

Bổ sung: Nói thêm về cách dùng từ nhố nhăng (đã được/bị chỉ đạo?) của báo chí: "nguyên nhà báo".

"Nguyên" là cái gì? Là đã từng, nhỉ. Như vậy, chỉ có thể dùng nó khi hai anh Hải và Chiến không còn viết báo nữa, ví dụ, hai anh chính thức tuyên bố chuyển nghề, đi cày, và đoạn tuyện với "cây viết". Còn, giả sử, hai anh có bị tước thẻ (hành nghề) báo chí, tước hội tịch (Hội Nhà báo), bị cấm viết... mà vẫn cứ viết (chui lủi, dưới tên người khác, hoặc viết để đấy, viết để lên blog...), thì họ vẫn cứ là nhà báo.

Cũng lạ! Sau thời Nhân văn Giải phẩm, hàng loạt nhà văn bị cấm viết, không thấy ai gọi họ là "nguyên nhà văn"...

(*) Ảnh trên là của VNN với chú thích "Đồng nghiệp và hoa". Lại nhớ hồi ông Nguyễn Việt Tiến được phóng thích, báo chí cũng loan những tấm ảnh ông ta ôm hoa...