14/3/09

Cách mạng Hung & Tung Của

2 nhận xét



Hôm nay là ngày kỷ niệm cách mạng Hung 1848, thời ông Petőfi Sándor "Tự do và Ái tình". Bốt loạt bài tư liệu dưới đây cho nó có khí thế.

Dân Hung ưa yêu đương (có hồi VNE loan tin người Hung make love nhất thế giới gì đó, chắc giờ nhiều bạn vẫn nhớ :)), nhưng cũng ham cách mạng, dù Hungary yếu rệu rã ;)

Chả sao, cái chính là khí phách, ví dụ thể hiện trong bài dịch sau. Ký giả Hung khi ấy thuộc hàng những nhà báo Âu Tây hiếm hoi được "mục sở thị" Tung Của sau vụ "Tứ nhơn bang" và Đặng Tiểu Bình bắt đầu lên ngôi. Qua Trung Quốc, được chiều chuộng đủ đường, thế mà về không "bẻ cong ngòi bút", cũng tài! :)

(*) Minh họa: Công xã nhân dân Nhị Kiều (1978) - nguồn: ký giả Hung.

TRUNG QUỐC NĂM XƯA DƯỚI CON MẮT MỘT KÝ GIẢ HUNGARY (1)

„Một tờ báo dân sự Pháp đã tổng kết những sự kiện xảy ra vài tuần sau khi Trung Quốc tấn công Việt Nam, rằng „Trung Quốc đã đánh mất sự trong trắng của mình”. Một cách diễn đạt ý nhị, nhưng không đúng. Nếu nhìn trên phương diện vai trò toàn cầu của đất nước này trong thế giới mà chúng ta đang sống, phải nói rằng trong 20 năm qua, Trung Quốc chưa bao giờ trong trắng và bất cứ lúc nào, nước này cũng hàm chứa trong mình khả năng gây tội ác” - nhà báo Hungary Bokor Pál viết trong cuốn sách "Một mùa hạ Trung Quốc", xuất bản cách đây đúng 30 năm.

TRUNG QUỐC NĂM XƯA DƯỚI CON MẮT MỘT KÝ GIẢ HUNGARY (2)

"Nếu sự nghiệp đòi hỏi, những người cộng sản đến nạn đói cũng không từ! Có cái gì không được chỉnh ở đây. Không lẽ, sự nghiệp của người cộng sản Việt Nam hiện nay đòi hỏi phải có nạn đói, còn sự nghiệp của người cộng sản Trung Quốc đòi hỏi phải cắt viện trợ trong khoảnh khắc như thế? May thay, hiện nay, không có sự nghiệp nào đòi hỏi hàng triệu người dân Trung Quốc phải đói khát" - nhà báo Hungary Bokor Pál kinh ngạc trước câu trả lời của nhà ngoại giao Trung Quốc cách đây 3 thập niên.

TRUNG QUỐC NĂM XƯA DƯỚI CON MẮT MỘT KÝ GIẢ HUNGARY (3)

"Như vậy, hiện tại chỉ có một Trung Quốc. Một Trung Quốc đã chối bỏ sự lạc hậu, nhưng chưa tìm thấy con đường để khắc phục sự lạc hậu. Một Trung Quốc, thay vì duy trì quyền lực nhân dân, thì khao khát địa vị một siêu cường thế giới. Một Trung Quốc mà lãnh đạo của nó, trong hai thập niên cuối, đã phạm hết từ sai lầm này đến sai lầm khác, và từ khi tấn công Việt Nam, họ còn có khả năng gia tăng chúng bằng những tội ác trầm trọng" - nhận định của một ký giả Hungary trong chuyến thăm Trung Quốc cách đây 30 năm, đến nay vẫn chưa hết thời sự tính?

10/3/09

Đối ngoại nhân dân

4 nhận xét



Bản tin này cũng thuộc hàng các bản tin chính trị như đã nói ở entry trước: "Đối ngoại nhân dân đang bị hành chính hóa".

Dầu sao đi nữa, đọc kỹ, nó vẫn bao hàm 1 ý đặc sắc. Ấy là khi: "Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh, trong nhiều nhu cầu hoạt động bức xúc hiện nay, trên hết, VUFO [Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam] cần tận dụng lợi thế của mình để tham gia mạnh mẽ hơn công tác đấu tranh về nhân quyền, dân chủ, tôn giáo, dân tộc".

Giật mình vì không hiểu VUFO phải "đấu tranh về nhân quyền, dân chủ, tôn giáo, dân tộc" mạnh mẽ hơn nữa ở đâu? Ở Việt Nam thì chắc là không cần, vì trên nguyên tắc ta đã có những cái đó :). Còn đấu tranh ở nước ngoài thì... e rằng khó, vượt tầm tay của VUFO.

Tuy nhiên, đọc tiếp câu sau thì mới hiểu: "Theo Chủ tịch nước, không có lý do nào khiến Việt Nam, một quốc gia từng bị đô hộ, đàn áp bởi giặc ngoại xâm, phải đấu tranh cho người dân được độc lập giờ lại bị hiểu không có nhân quyền, dân chủ..."

À, hóa ra VUFO cần đấu tranh để thế giới vỡ ra rằng Việt Nam ta đã có nhân quyền, dân chủ!

Tiên sư anh ký giả, viết tù mù thế, hiểu sai như bỡn? ;)

(*) Ảnh minh họa: Chủ tịch nước cùng các cán bộ làm đối ngoại nhân dân :) (Ảnh rất đứng đắn, đề phòng myselfvn bảo là cố tình đưa ảnh huê hậu, huê tình... vào các entry đề tài chánh trị để câu khách :))

Lưu ý nhỏ: cái băng-ron quá dài, rườm rà và hình như cũng mang tính hình thức, xơ cứng, hành chính hóa... Hệt như lời ông chủ tịch VUFO Vũ Xuân Hồng thừa nhận về công tác đối ngoại nhân dân: "Vẫn còn không ít các hoạt động đối ngoại mang tính hình thức, xơ cứng, hiệu quả thấp..." :)

8/3/09

Dọn vườn

9 nhận xét



Nói chung, mục "Chính trị" của các báo ở Việt Nam thường có những tin, bài chả ai buồn đọc. (Tuy nhiên, vì những lý do này khác nên vẫn cần phải đăng).

Ví dụ như bài sau: "Hungary sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam cải cách tư pháp". Đọc phần dẫn nhập đã thấy, đây là một tin nói chung là không cần đọc đối với đại đa số độc giả: "Quyền Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Hungary Kaposvari Bestalan vừa có chuyến thăm và làm việc tại Hà Nội theo lời mời của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam. Ông cho hay Hungary sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong cải cách tư pháp".

Tuy nhiên, chỉ trong một bản tin được viết bằng thứ ngôn ngữ quan liêu (và nói chung, có thể thay ông X đến từ nước A bằng bà Y đến từ nước B, mà nội dung cũng không có gì sai lạc), đã thấy hai điểm "hay":

- Cái tên của vị khách Hung (Kaposvári Bertalan) dĩ nhiên được/bị viết sai thành "Bestalan". May Hung là nước yếu, thử viết sai tên ông Tàu xem?! :)

- Ở Hungary, từ 20 năm nay, từ "nhân dân" đã được được "biến" khỏi tên các cơ quan nhà nước. Như vậy, không hề có cái gọi là "Tòa án Nhân dân Tối cao", chỉ có "Tòa án Tối cao". Bạn ký giả nào viết tin, chắc cứ "suy bụng ta ra bụng người" khi tự tiện ghép thêm từ "nhân dân" vào đấy.

Dầu sao đi nữa, ông Kaposvári Bertalan cũng là người giỏi (là chuẩn tướng cảnh sát, thành viên Hội Nhà văn Hungary với nhiều tác phẩm văn học, kiểu bác... Hữu Ước ;)) và việc ông ta sang thăm Việt Nam là điều đáng mừng :)

(*) Ảnh (chỉ mang tính minh họa cho Hungary): Dammak Jázmin, HHHV Hungary 2008, được lọt vào Top 15 trong cuộc thi Miss Universe 2008 tại Việt Nam.

6/3/09

Blog mới, hy vọng sẽ "trường tồn" :)

9 nhận xét



Dân tình đồn đại về việc Yahoo sẽ đóng cửa blog vào tháng Tư này. Bố cún mù kỹ thuật nên cũng chỉ biết đến vậy.

Dù đóng hay không thì đúng là vào Blog Yahoo dạo này quá là khó khăn, cực lâu và lỗi thì đầy rẫy. Nên thử dùng song song cái này, xem sao. Sản phẩm Hungary, hy vọng sẽ "thân thiện" với "người tiêu dùng".

Mẹ cún cứ sợ một ngày nào đó, tỉnh dậy thì tất cả những gì bố viết về hai đứa không còn nữa, nên cứ giục bố "nghiên cứu" để "chuyển nhà". Thời gian không có, nên nếu phải copy lại tất cả và "mu" thì chết. Nhất là những cmt, đều thuộc "tài sản" của Blog.

Thôi, sống ngày nào, cứ biết ngày ấy cái đã. Lo nhiều, mau già :)

Bây giờ kể về chuyện tấm ảnh nói trên.

Số là, Chủ nhật vừa rồi, bố và TV đi nhà sách để ngó nghiêng, vì lâu rồi bố chỉ biết đọc trên Net chứ kỳ thực "văn hóa đọc" (sách) rất mù. Còn TV thì bao giờ cũng thích đi thư viện, hiệu sách, mà thời gian thì ít vì học nhiều và trông em.

Khi đi, bố mang cái máy ảnh, định chụp TV giữa một núi sách, về ngắm cho thích. Tuy nhiên, mới bấm được một kiểu, loay hoay tìm hướng chụp kiểu nữa thì một ông bảo vệ đứng tuổi đến bảo: "Xin lỗi anh, nhưng ở đây không được chụp ảnh!"

Tính bố cún thực ra hòa nhã, nhưng lại không thích khi bị "hạn chế quyền tự do". Không kìm được, bố nói rất xẵng: "Tôi chụp con tôi thì có hề gì? Ở đây có biển cấm chụp ảnh đâu?!"

Ông bảo vệ vẫn rất chừng mực: "Có, anh ạ, ở ngoài cửa ra vào..."

Bực bội, bố cún cút ra cửa, xem có phải mình bị "kỳ thị chủng tộc", "phân biệt đối xử" vì là người ngoại quốc hay không? Chứ làm gì có biển cấm chụp?

Nhưng lần này thì bố cún tẽn tò quá, vì đúng là ngay ở cạnh bảng Giờ mở cửa, có một bảng khác, chứa toàn dấu hiệu những thứ không được mang vào nhà sách, tỉ như kem, đồ ăn...., trong đó có máy ảnh, máy quay phim. :((

Ông bảo vệ điềm nhiêm chấp nhận lời xin lỗi lí nhí của bố cún: "Không sao anh, thế này là thường, anh cứ tự nhiên... đọc sách đi, chớ nghĩ ngợi gì cả..."

Bố cún vừa thẹn (vì mọi sự xảy ra trước mặt con gái, và con gái, vớ vẩn, lại tưởng thế là "bố anh hùng" như có lần nó đã trầm trồ, "bố thật dũng cảm vì hay cãi cọ với người Hung", ám chỉ bố chỉ "lép vế" ở nhà, chứ ra đường không thua kém dân bản xứ :)), vừa cảm thấy cái đầu óc hơi tí là đa nghi anh Tào Tháo của mình, kể ra có lúc cũng không nên...

(Lại thầm nghĩ, xử sự láo toét như thế, ở Việt Nam chắc bị ăn đòn to rồi!)

5/3/09

Tin hay

6 nhận xét



"Dành tiền lấy vợ để đi bộ đòi công lý cho nạn nhân dioxin"

Từ thành phố Biên Hoà (Đồng Nai), anh Nguyễn Tuấn Linh, cán bộ Thành đoàn, đã dùng toàn bộ số tiền tích cóp để lấy vợ làm kinh phí cho cuộc đi bộ đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.

Xuất phát từ ngày 3/2, sau hơn một tháng, Nguyễn Tuấn Linh đã đến được 13 trường học tại 11 tỉnh thành và thu thập được gần 13.000 chữ ký đòi công lý cho các nạn nhân chất độc da cam/dioxin.

Chiều 5/3, Linh đã đến trường THPT Lê Lợi ở thị xã Đông Hà (Quảng Trị), địa phương có 15.400 nạn nhân chất độc da cam/dioxin để thu thập chữ ký của học sinh.

Theo kế hoạch, sau 61 ngày đi qua 21 tỉnh thành, cuộc đi bộ của Nguyễn Tuấn Linh sẽ kết thúc vào ngày 4/4 (đúng vào ngày giỗ tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch) tại đất tổ Hùng Vương ở tỉnh Phú Thọ.

Vị cán bộ đoàn này sẽ dâng lên đền Hùng 2 nắm đất ở nghĩa trang liệt sĩ TP HCM và nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn mà trong chuyến đi Linh đã mang theo.

(Theo TTXVN)

Kể ra, đi bộ đòi công lý cho nạn nhân chất độc da cam cũng cần đấy, nhưng dành tiền lấy vợ để làm điều này, có vẻ như không ổn. Có lẽ vị cán bộ Đoàn này chưa thể có ai trong thời gian trung hạn (3-5 năm), nên mới manh động thế?

Tuy nhiên, các quan tham, nếu mỗi người bỏ ra vài phần trăm tiền ăn cắp của công (hoặc của dân) để làm quỹ cho các nạn nhân thôi, chẳng cần phải bắt họ đi bộ, nghe chừng có lý hơn?

(*) Minh họa: vô nghĩa, nhưng chả lẽ không có?

Từ thiện

3 nhận xét




Hôm trước vô tình lạc vào trang web của nhóm Nghị Lực Sống, do Nguyễn Công Hùng chủ trương.

Hôm nay đọc được cái này ở blog Người Buôn Gió.

Nguyễn Công Hùng (Hiệp sĩ CNTT - ảnh trên) thì ai cũng biết rồi.

Người Buôn Gió đầu trò vụ "Ma Chiến Hữu" thì chắc các bác cũng rành :)

Vậy đăng lại info ở đây, mong đề án từ thiện giúp trẻ em nghèo Sơn La thành công với sự góp sức của cả nhà...

*

Rất cần giúp đỡ.

Hiện ngay có vụ này rất cần các bạn giúp đỡ.

Chả là Người Buôn Gió có mối thâm giao với Nguyễn Công Hùng (thằng này các bạn cứ tìm trên mạng là ra đây), chủ tịch hội nghilucsong.net. Cái hội này toàn những người bị khuyết tật thôi. Họ cùng nhau lập tổ chức này để làm từ thiện. Người Buôn Gió cũng tham gia làm thành viên của hội.

Nay có việc thế này. Trung tâm Nghị Lực Sống quyên góp được rất nhiều đồ đạc, quần áo, bánh kẹo cho trẻ em nghèo ở Sơn La. Nhưng... đúng ở đời hay có chữ "Nhưng". Cái "Nhưng" ở đây là thiếu tiền thuê xe ô tô tải chở đồ.

Khổ thế đấy, Người Buôn Gió nào biết cái chuyện vận động xin tài tài từ thiện thế nào đâu. Bảo nói phét này nọ khoác lác cho thiên hạ thì rành. Viết thư kêu gọi thì chưa bao giờ làm. (nhưng kêu biểu tình chống Trung Quốc thì biết đấy).

Thôi thì trăm sự nhờ các bạn hữu xa gần trên blog, đọc đuợc tin này làm ơn giúp Người Buôn Gió và cũng giúp trung tâm NLS trong việc mang đồ từ thiện đến các trẻ em nghèo vùng cao.

Tiền xe khoảng 6 triệu đồng.

Dạo này Người Buôn Gió cũng nghèo. Cho nên rất tha thiết mong các bạn hữu có tấm lòng hảo tâm, chung sức chỉa sẻ. Một cây làm chẳng lên non.

Cá nhân Người Buôn Gió rất tri ân sự giúp đỡ của các bạn. Mọi sự đóng góp xin gửi về tài khoản

- Vietcombank:
- Nguyễn Công Hùng – 0101000357953 - Chi nhánh TP. Vinh

Chi tiết đóng góp sẽ công khai trên trang web nghilucsong.net. Nếu ai là bạn Người Buôn Gió gửi xin ghi kèm theo là bạn Người Buôn Gió.

Rất cần sự giúp đỡ, san sẻ của các bạn trong vụ này.

Một lần nữa, rất mong sự giúp đỡ của các chiến hữu xa gần.

Chân thành cám ơn các bạn đã đọc tin.

4/3/09

Phở

15 nhận xét



Hôm này cả nhà được mẹ cún đãi phở bò (ảnh trên), ngon lịm cả người!

Đây là thứ bố ít xơi, vì sợ nhiều chất quá, bất lợi cho sức khỏe (chưa "phú quý" nhưng đã sinh rách việc là ở chổ này). Tuy nhiên, hôm sinh nhật ăn bún bò, rồi hôm qua lại dàn trang có bài về phở Việt Nam, có cái hình minh họa hấp dẫn quá, đâm thèm. Mạnh dạn đề xuất với mẹ cún, được đáp ứng ngay, thích quá!

Liên quan đến phở, bốt lại tra tấn các bác một đoạn nhảm nhí viết cách đây cũng đã 12 năm. Ấy còn là cái thời còn hào hứng nhiều thứ, và với tờ "Gió Đông" theo phương châm "tao đàn, mày hát" của mấy anh em bên Đông Âu, mà ông bạn Vũ Hồng Lâm (bây giờ đã biến thành TS Alexender Vuving, chuyên gia an ninh, địa chính trị, biên giới hải đảo, TS HS, Tàu Tưởng...) thường hay gọi là "đống gio", để ám chỉ cái kết cục "sớm nở tối tàn" của nó.

Đọc lại để nhớ một thời, và để thấy mình cũng... linh tinh: có thời gian để ngồi viết tào lao đến 9 ngàn từ, và bậy nhất là còn được duyệt để đăng :)

TB. Các bạn BBC cho lên đây, vinh hạnh quá ;)

Update: Cám ơn Linh, đưa luôn link lên đây để bà con thưởng ngoạn.

Có hai ý kiến "phản biện" này hay, trả nhời các bạn Làng Ven luôn ở đây, Linh chuyển giùm nhé:

* Dandelion: Em xem bài viết về phở của ông Hoàng Linh (theo link bác Gấu) được vài dòng xong chạy mất dép. Mịa, không hiểu ông ấy lấy đâu ra lắm chữ thế, tận 9000 chữ để viết về thứ ngày nào em cũng ăn, mỗi lần ăn nhõn 5 phút.

=> Đâu, đoạn về Phở chưa đến 3.00 từ mà. Chắc bạn đọc lộn ở đâu? ;)

* Milou: Ok bi rờ liếc sơ qua cái bài trên cùng có ghi là được đăng trên BBC lày lọ. Anh này chẳng có thật sự tâng bốc phở rì sất, anh í chỉ muốn khoe cái bộ đồ lòng iu quê hương VN vô bờ bến của ảnh để tỏ ra ta đây không mất gốc. Thía tui là ghét quê hương vô bờ bến, hầu như là thề không quay về nữa, tự cho mình mất gốc, tuy nhiên tui có thể nói tui iu mấy cái chuồng mấy cái hang trong làng này là đủ.

=> Hìhì, mất gốc đủ đường, ai hơi đâu khoe "bộ đồ lòng iu quê hương VN vô bờ bến" làm gì?! ;)

***

(Đoạn) 4

Lại nói về Nguyễn Tuân. Khi nói về ăn, ông làm cho ta có cảm tưởng đó không chỉ thuần túy là một miếng ngon. Nó còn là một miếng đẹp, miếng-tinh-thần, khiến ta phải đối xử với nó một cách "có văn hóa". Nghĩa là ăn cũng phải theo đúng phép tắc, nghi lễ, kiểu cách.

Người ta bảo ngay ở khoản này, Nguyễn Tuân cũng ngông, tức là ông cố tình nâng lên tầm quan trọng, thiêng liêng những thứ vốn bị coi là phàm tục, tầm thường. Tôi thì cho rằng chẳng qua ông coi ăn cũng như một thú chơi nhàn tảng, như muôn vàn các thú khác của người quân tử, mà ông đã thuật lại trong "Vang bóng một thời".

Truyền thống Á Đông hay quan trọng hóa vấn đề và đặt ra lắm chuẩn mực rối rắm. Thời xưa, khát mấy nhưng gặp con suối mà kẻ đạo tặc đã uống, cũng phải bấm bụng mà đi. Người Trung Quốc còn đỡ, họ chỉ hay làm to chuyện những gì dính dáng trực tiếp và gián tiếp đến văn hóa, nghệ thuật, như viết lách, vẽ vời (phải chọn bút nghiên, chọn mực, giấy má, rồi ngóng chờ thời điểm thích hợp), hay thưởng ngoạn văn học (trước khi đọc, phải tắm rửa sạch sẽ, ăn vận chỉnh tề, thắp nến bạch lạp). Chứ đến như Nhựt Bổn thì thật quá trớn; không phải vô cớ mà có nhà văn ta đã gọi cái sự làm gì cũng chiểu theo những nghi thức, điệu bộ đẹp đẽ mà giả tạo ấy, là cuộc sống "lấy lễ làm gốc"! Ở xứ hoa anh đào, cái gì cũng được (bị?) nâng lên thành đạo: cắm hoa, cứ tưởng dễ mà phải học dài dài; uống trà, phải qua lắm thủ tục phiền phức, tốn thời gian và nhiêu khê. Chưa nói gì đến trò chơi cây cảnh và non bộ (bonsai) công phu và khó có tiếng. Ngay võ nghệ là thứ mang tính chân tay mà họ cũng còn lạy lục, chào hỏi nhau chán mới động thủ, đến rút một thanh kiếm ra chém cũng phải diễn một màn kịch dài dằng dặc và nghiêm trọng như tuồng cổ của ta vậy (phải chăng cái nghi thức rạch bụng của các Cảm tử quân dăm chục năm ngày xưa, cũng có nguồn xa xăm tự đây?)

Dài dòng lạc đề như thế để bảo rằng cái sự tôn trọng lễ nghi trong ăn uống của ta, chắc hẳn không ít thì nhiều, chịu ảnh hưởng những tập tục các nước trong vùng. Tiêu chuẩn ăn uống của Tản Đà (món ngon, chỗ tốt, bạn hiền, thời gian thích hợp) cũng chứng tỏ việc đưa ăn uống vào những phép tắc, có lẽ đã được mô phỏng theo những "chuyên ngành" khác của đời sống (ví dụ: ba chục cái thú của Kim Thánh Thán).

Ăn uống đúng cách, đúng khẩu vị và sành điệu, dĩ nhiên là cái hay mà không phải ai cũng biết và cũng rành. Nhưng đẩy nó đến mức cực đoan như Nguyễn Tuân trong "Phở" chẳng hạn, tôi e chửa chắc đã thú. Trong ăn uống cũng như đời sống, giáo điều, cứng nhắc quá, thiếu tự do và sự lựa chọn, là điều không hay.

Bình sinh con người, ăn nhậu muốn ngon, cứ phải thoải mái, không quá câu nệ. Vả lại, ăn là chuyện có dính nhiều đến sở thích cá nhân. Xin được tiếp tục bằng phở. Được biết lúc sinh thời, ông Nguyễn chỉ xài được loại phở bò chín, không ớt, không chút nước mắm, dấm phụ trợ; ông hết sức tán tụng nó, và bài xích các thể loại khác là "phở tẩm bổ". Dĩ nhiên, đây là quyền tự do của ông. Nhưng, tôi vẫn khoái ăn phở tái (miễn là làm khéo) mà không cảm thấy hề hấn gì về cái "giá trị mỹ học của bát phở chín", cùng lời châm chích về sự "muốn bổ, sao không uống Păng-tô-cờ-rin của Liên-xô, còn có tác dụng bằng mấy!" của ông Nguyễn. Và chắc rằng, đối với nhiều người trong đó có tôi, phở bò hay phở gà đều có thể ngon như thường, miễn là được làm đúng cách: nước dùng nấu bằng xương, sủi lăn tăn, ngọt, trong, thơm, đủ vị gừng, hành, hồi, thảo quả và hạt tiêu, bánh phở dai, luộc chín đến.

Rõ ràng, có thời, phở đã không được như cung cách nó phải có, mà ông Nguyễn phàn nàn trong bài của mình. Ông kể đến lý do chiến tranh, đôi khi phải tùy tiện và "tùy nghi". Nhưng sau đó, không thấy ông điểm đến phở của thời bao cấp cách đây gần hai chục năm, khi chiến tranh đã chấm dứt, và không còn lý gì làm cho phở phải luân lạc. Tôi không làm sao quên được cái thời phở được chia thành mậu dịch và tư nhân ấy: phở mậu dịch có hai loại, phở nước, không người lái chỉ gồm bánh phở và nước dùng (giá 2,5 hào) và phở thịt, có lõng bõng cả vài miếng thịt (giá 5 hào). Gia đình tôi vốn công nhân viên chức, nên nói chung, chỉ dám xài loại mậu dịch, dù biết nó không được đạt tiêu chuẩn lắm; vả lại, thường chỉ khi nào ốm mới được nếm, lúc ấy ngon mấy cũng khó nuốt dzô, phân biệt làm chi ngon dở. Phở tư nhân dĩ nhiên khá hơn nhiều (tôi liệt vào hạng này cả thứ phở của những tổ hợp tác, một hình thức "tư hữu hóa" cấp thấp hồi ấy), cố nhiên, giá cả cũng mắc hơn, từ 7,5 hào đến một đồng rưỡi. Cái giá sau này chỉ những hàng phở danh giá, cự phách nhất mới dám đòi (hay nhắc đến giá cả, cũng chỉ muốn nhớ về dư âm một thời. Hình như đầu thế kỷ, độ 1,2 xu là được một bát phở không tồi. Cái giá trung bình hiện nay, là bốn, năm ngàn đồng bạc bác Hồ) Những quán phở, không hiểu sao thường được đặt trong một căn buồng không mấy lớn, tôi tối, có phần ẩm thấp, với những bộ bàn ghế gỗ thấp lè tè. Khách đến, lắm khi phải chờ đợi để có bàn, nhưng không ai tỏ ra sốt ruột và cáu gắt như khi xếp hàng mậu dịch. Hẳn ai nấy đều tâm niệm rằng đó là cái giá phải trả, khi được thưởng thức một món ngon có chất lượng cao. Vả lại, lúc chờ đợi, người ta có thể nói và nghe đủ thứ trên trời dưới đất, kể cả những tin "tuyệt mật" như chuyện tăng giá gạo hoặc đổi tiền vào ngày hôm sau, mà đài báo vẫn cứ chối đây đẩy.

Thỉnh thoảng, chúng tôi cũng được đến những nơi đó, thường là khi cha mẹ mới có lương, hay được thưởng. Cứ độ mỗi tháng một lần, mấy đứa trẻ khốn khổ vì thòm thèm được ngồi sau xe đạp, lắm khi đi đến những nơi rất xa lạ với chúng, vì ở đó có hàng phở ngon ("Bà A. bảo thế", cha mẹ chúng nói; "bà A." ở đây thường là một nhân vật buôn bán, phe phẩy, theo ngôn ngữ thời bấy giờ). Khoảng thời gian chờ đợi, nhìn lão chủ quán có cái bụng to cồng kềnh múa chiếc muôi và con dao sáng loáng - trong lòng thầm mơ "giá được thành lão ta để ăn cả ngày thì sướng nhẩy!" -, là những giây phút hồi hộp và hạnh phúc nhất của lũ trẻ. Và cuối cùng thì bát phở nghi ngút khói, thơm nồng được đưa lên, chúng tôi được dạy cách ăn từ từ, chậm rãi để cái vị của phở ngấm vào huyết quản, vào từng đường gân, thớ thịt. Tôi hay có cảm giác hẫng và tiếc, pha chút hoảng hốt khi bát phở sắp cạn: lại phải chờ hàng tháng giời đằng đẵng nữa! Cho đến giờ, không phai trong tôi ấn tượng những đêm giá rét, trên con đường về nhà từ quán phở, các bậc phụ huynh hể hả vì "cái quán khá thật, đáng tiền bỏ ra!", còn tôi vẫn râm ran cả thân thể vì bát phở nóng hổi trong bụng, và phấn khích vì vừa được "tiêu thụ" một thứ mĩ vị đến thế.

Đối với nhiều người, ăn phở, muốn tận hưởng được hết cái sướng, cứ phải chọn hàng phở gánh ngoài phố, ngồi xổm (hay bệt) xì xụp, nước mắt nước mũi dàn dụa, húp thành tiếng rõ to rồi suýt xoa khoái trá. Lắm ông to bà lớn mà vẫn mê thứ phở bình dân đó, nhưng vừa sĩ vừa ngại lộ diện, phải để xe ở rõ xa, ăn mặc giản dị cuốc bộ hòa nhập vào dòng người lam lũ gồm đủ các thành phần. Cảnh tượng ăn uống như thế, nhìn thì có vẻ thô lậu và hơi mất "mỹ quan", nhưng cứ ở trong cuộc, mới hay cái lý nhất định của nó. Nó cũng phản ánh phần nào cái triết lý "sống để mà ăn" rất đặc thù của Á Đông: ăn say mê, ăn hể hả, ăn một cách tận hưởng, chứ không chỉ đơn thuần thưởng thức. Đừng tưởng đây là một biểu hiện "xuống cấp" của văn hóa thời nay, dân ta hằng nửa thế kỷ trước đã vậy. Nguyễn Huy Tưởng trong "Sống mãi với thủ đô", có kể về cung cách xài phở của người Hà Nội thời xưa, như sau: "... Những người Hà Nội suốt đời chỉ có một mục đích là cái bát phở buổi sáng, họ đem hành tây, họ đem trứng đi hàng phở quen, họ đánh dấu bát để đưa chan, họ hỏi hồ tiêu, họ đòi ít ớt, họ xin ít nước béo, họ vùi đầu vào bát phở một cách thô tục, xấu xí, rồi họ ra đi một cách tự mãn, có khi còn khinh khỉnh với người không sành phở như họ nữa". Dĩ nhiên, qua những dòng trên, nhà văn muốn đả kích cái thói tục trong ăn uống, nhưng phải nhận rằng, thói tục ấy chửa chắc sẽ mất đi ngay cả trong thời đại Internet này.

Sự phân biệt giữa phở mậu dịch và tư nhân, có lẽ chỉ chấm dứt vào thời tiền kinh tế thị trường (theo định hướng XHCN). Vào những năm đầu của thập niên 80, có một đơn vị nhà nước chỉ bằng một cải cách nhỏ nhoi, đã gây tiếng vang và thu hút khá đông khách đến ăn. Người ta truyền nhau là ở cửa hàng Ga (gần ga Hàng Cỏ, Hà Nội), phở nhà nước mà khá ngon, phục vụ không đến nỗi nào, hơn thế, mỗi người mua được nhận một tích-kê có số thứ tự, ai gặp phải số chẵn chục, chẵn trăm là được thêm thịt, thêm nước béo. Cái tên "phở Đường sắt" có từ đó, tồn tại trong vài năm, như tượng trưng cho một thứ đồ "quốc doanh", mà không điêu trác, không bôi bác, tồi tệ.

Cốt lõi của phở ngon là nước trong và ngọt. Thế thì phải có nhiều xương bò, mà nước ta hồi xưa không đặc trưng mấy ở phạm trù lắm thịt cá. Thành thử, nhiều hàng phở chỉ nổi tiếng ngon vì cho lắm mì chính: người ta thả công khai vào bát phở hàng thìa bột ngọt. Dù sao, đây cũng là thứ được coi là xa xỉ vào thời ấy, nên không cần bàn gì nhiều: cứ thế nào mà chẳng được, miễn ngọt và ngon miệng, không xương thì đánh lừa cảm giác bằng thứ khác, có sao. Nhưng sau đó ít lâu, lại có nhiều bài báo và dư luận bảo rằng mì chính độc, ăn lắm có hại cho cơ thể (đào đâu ra mà lắm! Tôi cho rằng thứ tuyên truyền này cũng giống như kiểu rau muống bổ hơn thịt bò, đường đen (của Quy Ba) tốt hơn đường trắng mà lũ "chân gỗ" thời trước nghĩ ra để làm dịu người dân trước những mặt hàng thiếu thốn), nên lắm người cũng hỏi chờn chợn. Ai đó nghĩ ra cách thử cho các loại có mùi tanh như tôm, cá vào nồi hầm, xem sao. Và đặc biệt thay, họ làm thế nào mà ta không thấy có chút vị tanh gì sất, lại ngọt và trong vắt! Không biết, nước phở loại ấy có được liệt vào hạng "chính thống" của ông Nguyễn không? (Nhớ đâu viết đấy, Thạch Lam có kể - hình như trong "Hà Nội băm sáu phố phường" thì phải -, rằng ở Hà thành xưa, có một hàng phở gánh duy nhất trong nhà thương Phủ Doãn, còn cho mấy giọt cà cuống vào bát nước dùng. Chửa nếm, nên tôi không hình dung ra nổi mùi vị bát phở như thế, sẽ ra sao).

Phở chính hiệu, có lẽ phải là phở (xuất xứ từ) Hà Nội. Nhưng từ khi hai miền lưu thông, thời thế nổi trôi, phở cũng bị lai tạp đi nhiều lắm. Một số hàng phở trong Nam, xưng là Bắc Kỳ, mà cho cả rau, giá, đỗ hệt như hủ tiếu Sài Gòn. Phở một số nơi còn được nêm cả tương, xì dầu, mắm tôm, rất lộn xộn. Chưa nói gì đến thứ phở sốt vang (?) hay thấy ở Hà thành một thời, dính làm gì chữ phở vào đây cho bôi bác nhỉ? Phở hết thành thứ quà ngon, và trở nên món ăn no của lũ trưởng giả mới. Một hồi, tại Hà Nội, ăn phở sang là phải đập vào đó vài quả trứng, có thể mang sẵn từ nhà, hoặc mua thêm ở hiệu. Lắm kẻ đòi thêm mấy miếng thịt được chặt kiểu "chém to kho mặn" rồi vênh váo ngồi ăn trước con mắt thán phục của đại chúng. Rồi chuyện gọi một tô phở đặc biệt, thịt đầy tú ụ, cho con chó bẹc-giê phốp pháp ngồi lên ghế ăn cùng với người, hình như không phải là chuyện quá hiếm hoi ở xứ ngàn năm văn vật. Tôi vốn chủ trương đa nguyên trong ăn uống nói chung, và trong lĩnh vực phở nói riêng, nhưng vẫn không chịu nổi và dị ứng với những tìm tòi, "cải cách" không phải lối kiểu trên.

Nhưng cũng có những thứ "cải cách" khác, rất đáng được thông cảm, bởi hoàn cảnh những chủ nhân của chúng, dù nó đi ngược lại mọi nguyên lý cơ bản và sơ đẳng của phở. Đó là thứ phở cơm, hay cơm phở, món ăn được lũ sinh viên nghèo khó rất ưa thích: chung nhau bỏ ra ít tiền, mua nước phở, tiện thể bốc trộm chút hành xanh, về trộn với cơm hẩm ký túc xá, xì sụp húp ăn rồi thi nhau khen ngon. Hay những hàng phở gánh bình dân, phục vụ tận nơi tận chốn lũ học trò vào những đêm mất điện, lúc ấy, mọi thứ bánh phở, nước dùng, hành, rau thơm, nước mắm, tương ớt, dấm được đổ ụp với nhau thành một thể tạp-pí-lù (hay đả biên lô, theo cụ Vương Hồng Sển, nghĩa là thập cẩm, tào lao, ba lăng nhăng), cay xè, lắm khi mặn chát chúa, vậy mà ai dám bảo là dở?

Phở ở xứ Tây, do những điều kiện "kỹ thuật" nhất định, chắc không thể làm theo những phương thức kinh điển, và ngon như ở nhà. Phở quận 13 Paris, phở Cali, người khen, kẻ chê, tôi chưa được nếm nên không dám lạm bàn nói bậy. Nhưng người viết bài này cảm thấy rất hài lòng về phở ở xứ Đông Âu, được nấu tại những quán ăn đứng nho nhỏ tại chốn chợ búa tất bật, lam lũ của đồng bào mình: ở đó, người nấu phải dùng bánh phở khô, nước dùng có khi nguội, và bát phở không nóng một cách tự nhiên, mà bởi microwave, có khi thiếu cả những gia vị phụ trợ tối thiểu; người ăn dùng bát, thìa và dĩa nhựa, một lần rồi bỏ. Thế mà mỗi lần thưởng thức nó, tôi vẫn bùi ngùi như đụng chạm vào một mảnh quê hương.